Cảm niệm Ân sư

19/10/201717:24(Xem: 6736)
Cảm niệm Ân sư



HT Thich Tri Tam (1934-2017)
Cảm niệm Ân sư


Kính lạy, giác linh Thầy,
Thầy ra đi, như một hành tinh lạc,
Thầy đi vào vô biên, chúng con buồn ngơ ngác.

Thầy đi, mang theo cả tình đạo vị, thương yêu,
Ngôi già lam còn nhớ, hoa cỏ vẫn mong chờ.

Thầy một lần nhắm mắt, là qua hết một đời,
 Chúng con buồn quay quắt, ngân ngấn lệ đầy vơi...

Kính lạy, Giác linh Thầy

Cội tùng, từ nay đã đổ
Gốc bách, giờ đã trơ cành
Bậc Đống lương, về cõi an lành
Đấng Long tượng, nghìn thu cách biệt.

Dẫu biết rằng:

Chuyện đến đi, vô thường sinh diệt
Ấy cũng là, định luật xưa nay
Sao mà lòng, vẫn cứ bi ai
Không ngăn được, đôi dòng nước mắt.

Thầy  ơi!

Nhớ lại:
Thuở Thế Tôn, Niết Bàn nơi Ta la song thọ 
Hàng chư thiên, Thánh chúng cũng rơi lệ ngậm ngùi

Thì hôm nay:

Chốn  Tổ đình Nghĩa Phương
Ngài an nhiên, thâu thần tịch diệt
Sao tránh khỏi, mọi người da diết
Khôn cầm lòng, giọt lệ rưng rưng!


Nhớ Giác  linh xưa:

Xuất thân, nơi địa linh nhân kiệt
Vùng đất Thủ đô Hà Nội, quê lụa Hà Tây

Ra đời trong gia đình khoa bảng họ Trương
Thuở nhỏ, giữ gìn nề nếp gia phong
Lớn lên, rèn luyện thân tâm tri thức
19 tuổi,  nhân duyên thoát tục

Năm 1953, rời Tảo Khê quê mẹ

Bôn ba, từ Bắc vào Nam

Rồi nhân duyên lại đến

Đất Nha Trang, miền thùy dương cát trắng

Sông núi  hữu tình, xứ  sở Trầm Hương
Ngài dừng chân, nơi Bồ đề địa Lương Sơn
Được Bổn sư Bích Lâm, thu nhận

Làm Thầy giáo, ăn cơm chùa học đạo

Năm 1954,  hội đủ nhân duyên
Cầu Thầy Bích Lâm xuất gia thí phát
Nương nhờ Bổn sư dìu dắt
Ngài sớm lãnh hội pháp màu
Phật học Sơ-Trung, giáo lý chuyên sâu
Vừa học, vừa tu, dạy học, hành đạo,

 Sở hành chân tâm tỏ rõ
Nơi già lam Nghĩa Phương  theo Bổn Sư

Nhất y, nhất thuận

Ngày đêm kinh kệ, trau dồi giáo lý Phật Đà
Bắt đầu sự nghiệp hoằng dương chánh pháp
Khuôn Nghĩa Hương  trở về gieo hạt
Đất  Phước Tiến  chăm chút giống Thiền
Quả thật Ngài hội đủ nhân  duyên
Cùng Bổn sư lập trường Nghĩa thục Bát Nhã

Làm Hiệu trưởn dạy con em nghèo Phật tử

Trong tưởng niệm đêm nay có nhiều thế hệ học trò…

Nhớ Giác linh xưa:

Chí nguyện lợi sanh chẳng nề khó nhọc
Tâm hạnh độ đời nào ngại gian lao
Dù bệnh đau sức yếu tuổi cao
Ngài vẫn vẹn tròn Phật sự
Dạy đệ tử, từng câu từng chữ
Từng ngôn hành, thân giáo uy nghiêm
Trong mắt Ngài đệ tử luôn thơ dại yếu mềm
Nên Ngài vẫn luôn bên cạnh chỉ bày rành rọt
Dẫu là học Tăng, hay làm Trụ trì, Giáo thọ
Ngài cũng ân cần giáo huấn bảo khuyên
Ngài rất nghiêm, nhưng ai cũng muốn được đến gần
Ai cũng muốn được, sưởi ấm trong tình thương cao cả 
Dẫu thân thể bệnh  đau, mà ánh nhìn luôn hỷ xả
Dẫu tứ đại hoành hành, mà tâm trí vẫn kiện nhu.

Những tưởng: 

Cơn trọng  bệnh  sẽ qua, cho tuổi đời trăm năm tròn đủ
Sẽ tiếp tục, nối đuốc trao đèn, tiếp dẫn hậu lai
Đạo đời viên dung, sứ mạng hoằng khai
Dẫn dắt môn hạ tuyên bày chánh pháp

Nào ngờ đâu:

Một tối cuối Thu, không chờ lại đến,

 Ngài quãy dép quy Tây…
Đất trời Nha Trang  bi lệ nhuộm màu tang
Huynh đệ, Môn hạ, hiếu đồ thương tiếc bàng hoàng
Cung tiễn Ngài Cao Đăng Phật quốc…

Than ôi!

Vĩnh biệt Ngài, nỗi đau tê tái
Cảm nghĩa Đệ huynh, se sắt buồn thương
Thành kính xin dâng một nén tâm hương
Nguyện noi dấu Người,  tri-hành tỏ rạng

Giờ đây:

Mây tan, tuyết rả, hoa héo, trăng tà 
Sinh tử vô thường, tan hợp có không
Vĩnh biệt Ngài xin cảm niệm đôi dòng

Thư bất tận ngôn,
Thắp tuệ lạp, gửi hư không vô tận

Than ôi!

Mấy lời mộc mạc, một bức ai văn.
Các đệ  kiền thành, hòa nam bái bạch.


Trí Bửu – cúi đầu cảm niệm Ân sư HT Thích Trí Tâm
Tháng 10/2017






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10872)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37817)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15306)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10688)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11397)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10777)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17153)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48871)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10137)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).