Cảm niệm Ân sư

19/10/201717:24(Xem: 6503)
Cảm niệm Ân sư



HT Thich Tri Tam (1934-2017)
Cảm niệm Ân sư


Kính lạy, giác linh Thầy,
Thầy ra đi, như một hành tinh lạc,
Thầy đi vào vô biên, chúng con buồn ngơ ngác.

Thầy đi, mang theo cả tình đạo vị, thương yêu,
Ngôi già lam còn nhớ, hoa cỏ vẫn mong chờ.

Thầy một lần nhắm mắt, là qua hết một đời,
 Chúng con buồn quay quắt, ngân ngấn lệ đầy vơi...

Kính lạy, Giác linh Thầy

Cội tùng, từ nay đã đổ
Gốc bách, giờ đã trơ cành
Bậc Đống lương, về cõi an lành
Đấng Long tượng, nghìn thu cách biệt.

Dẫu biết rằng:

Chuyện đến đi, vô thường sinh diệt
Ấy cũng là, định luật xưa nay
Sao mà lòng, vẫn cứ bi ai
Không ngăn được, đôi dòng nước mắt.

Thầy  ơi!

Nhớ lại:
Thuở Thế Tôn, Niết Bàn nơi Ta la song thọ 
Hàng chư thiên, Thánh chúng cũng rơi lệ ngậm ngùi

Thì hôm nay:

Chốn  Tổ đình Nghĩa Phương
Ngài an nhiên, thâu thần tịch diệt
Sao tránh khỏi, mọi người da diết
Khôn cầm lòng, giọt lệ rưng rưng!


Nhớ Giác  linh xưa:

Xuất thân, nơi địa linh nhân kiệt
Vùng đất Thủ đô Hà Nội, quê lụa Hà Tây

Ra đời trong gia đình khoa bảng họ Trương
Thuở nhỏ, giữ gìn nề nếp gia phong
Lớn lên, rèn luyện thân tâm tri thức
19 tuổi,  nhân duyên thoát tục

Năm 1953, rời Tảo Khê quê mẹ

Bôn ba, từ Bắc vào Nam

Rồi nhân duyên lại đến

Đất Nha Trang, miền thùy dương cát trắng

Sông núi  hữu tình, xứ  sở Trầm Hương
Ngài dừng chân, nơi Bồ đề địa Lương Sơn
Được Bổn sư Bích Lâm, thu nhận

Làm Thầy giáo, ăn cơm chùa học đạo

Năm 1954,  hội đủ nhân duyên
Cầu Thầy Bích Lâm xuất gia thí phát
Nương nhờ Bổn sư dìu dắt
Ngài sớm lãnh hội pháp màu
Phật học Sơ-Trung, giáo lý chuyên sâu
Vừa học, vừa tu, dạy học, hành đạo,

 Sở hành chân tâm tỏ rõ
Nơi già lam Nghĩa Phương  theo Bổn Sư

Nhất y, nhất thuận

Ngày đêm kinh kệ, trau dồi giáo lý Phật Đà
Bắt đầu sự nghiệp hoằng dương chánh pháp
Khuôn Nghĩa Hương  trở về gieo hạt
Đất  Phước Tiến  chăm chút giống Thiền
Quả thật Ngài hội đủ nhân  duyên
Cùng Bổn sư lập trường Nghĩa thục Bát Nhã

Làm Hiệu trưởn dạy con em nghèo Phật tử

Trong tưởng niệm đêm nay có nhiều thế hệ học trò…

Nhớ Giác linh xưa:

Chí nguyện lợi sanh chẳng nề khó nhọc
Tâm hạnh độ đời nào ngại gian lao
Dù bệnh đau sức yếu tuổi cao
Ngài vẫn vẹn tròn Phật sự
Dạy đệ tử, từng câu từng chữ
Từng ngôn hành, thân giáo uy nghiêm
Trong mắt Ngài đệ tử luôn thơ dại yếu mềm
Nên Ngài vẫn luôn bên cạnh chỉ bày rành rọt
Dẫu là học Tăng, hay làm Trụ trì, Giáo thọ
Ngài cũng ân cần giáo huấn bảo khuyên
Ngài rất nghiêm, nhưng ai cũng muốn được đến gần
Ai cũng muốn được, sưởi ấm trong tình thương cao cả 
Dẫu thân thể bệnh  đau, mà ánh nhìn luôn hỷ xả
Dẫu tứ đại hoành hành, mà tâm trí vẫn kiện nhu.

Những tưởng: 

Cơn trọng  bệnh  sẽ qua, cho tuổi đời trăm năm tròn đủ
Sẽ tiếp tục, nối đuốc trao đèn, tiếp dẫn hậu lai
Đạo đời viên dung, sứ mạng hoằng khai
Dẫn dắt môn hạ tuyên bày chánh pháp

Nào ngờ đâu:

Một tối cuối Thu, không chờ lại đến,

 Ngài quãy dép quy Tây…
Đất trời Nha Trang  bi lệ nhuộm màu tang
Huynh đệ, Môn hạ, hiếu đồ thương tiếc bàng hoàng
Cung tiễn Ngài Cao Đăng Phật quốc…

Than ôi!

Vĩnh biệt Ngài, nỗi đau tê tái
Cảm nghĩa Đệ huynh, se sắt buồn thương
Thành kính xin dâng một nén tâm hương
Nguyện noi dấu Người,  tri-hành tỏ rạng

Giờ đây:

Mây tan, tuyết rả, hoa héo, trăng tà 
Sinh tử vô thường, tan hợp có không
Vĩnh biệt Ngài xin cảm niệm đôi dòng

Thư bất tận ngôn,
Thắp tuệ lạp, gửi hư không vô tận

Than ôi!

Mấy lời mộc mạc, một bức ai văn.
Các đệ  kiền thành, hòa nam bái bạch.


Trí Bửu – cúi đầu cảm niệm Ân sư HT Thích Trí Tâm
Tháng 10/2017






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 14321)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8237)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8420)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 9659)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8616)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14376)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11451)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16667)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 8821)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17550)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.