Điếu Văn Tưởng Niệm HT Thích Minh Tuyền

01/09/201717:29(Xem: 9369)
Điếu Văn Tưởng Niệm HT Thích Minh Tuyền



Chan Dung HT Thich Minh Tuyen_1938-2017-b
ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ

HUÝ THƯỢNG MINH HẠ TUYỀN


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Hòa Thượng hội đồng chứng minh tang lễ
Kính bạch chư Tôn đức trong Ban Tang Lễ.
Kính bạch chư Tôn đức hiện diện

Cho phép con thay mặt Tăng Ni tại Nhật bản có đôi lời kính niệm bậc ân sư
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Hàng Tăng ni đệ tử chúng con cung thủ, phủ phục đê đầu đảnh lễ Giác linh Thầy
Kính lạy Thầy,
Vào giờ này một nỗi đau quặn thắt đang ngự trị giữa cõi lòng của hàng thất chúng đệ tử phủ phục trước linh sàng của Thầy, nói sao cho hết những nỗi niềm thương kính
Hỡi ôi
Xứ Phù tang mây trời như kín lại
Đến chư thiên cũng khe khẽ thầm thì
Tiễn thầy về trên lối vô vi
Hàng thất chúng muôn phần thương tiếc
Bóng thời gian xiêu đổ, mờ nhạt cuối trời xa
Thầy ung dung quay gót, nhẹ ngang chốn Ta Bà
Chúng con kính tường
Thuở ấu nhi 7 tuổi thầy gặp tôn sư, nghiên tầm bắt đầu học đạo
Đầy đủ thắng duyên, chùa Bửu Tích, Viên Trí hòa thượng cho thế phát xuất gia gieo mầm thánh chủng
Viện Phật học Hải Đức Nha Trang, thuở thiếu thời nung kinh nấu sử chẳng ngại khó khăn
Thuận thế thường luân, Nha trang xứ chứng minh, giới hạnh viên dung tỳ kheo Minh Tuyền đắc pháp hiệu
Từ đó
Minh chơn tỏa rạng, trung ý từ lương, khởi phát tuệ đăng
Tuyền thông khai lạch, nguyện tâm hải hà, vân du hành đạo
Lịch sử đã ghi dòng:
Đồng chân xuất gia từ thuở nhỏ
Nhập đạo vững một đường tu
Giới tướng viên dung, như trăng sáng xóa mây mù
Hạnh đức kiêm ưu, tợ đất trời tinh túy
24 tuổi kiêm toàn phần ưu tú học
Đất phương nam du hóa thỏa nguyện bút nghiên
Thủ Đức - Hàng Xanh, pháp Tạng tự dựng xây khai chốn tổ
Tuổi 34 đến phù tang quyết tìm sự học từ nguyên
Cao quý thay
Sức việt máu lạc hồng vun đầy trong huyết mạch
Dựng đạo bởi từ tâm thương mến đến cội nguồn
Dẫu hoang sơ vẫn kiên định trong niềm tin với đấng từ tôn
Gieo hạt giống thiện, cưu mang hồn dân tộc
Tháng năm lần lựa
Khổ đau nhường lối vô sinh
Hạnh từ hòa tuệ trí cao minh
Xứng đáng là bậc xuất trần thượng sĩ
Thầy mượn thân tứ đại
Lúc Hoa Kỳ, khi lại đến Úc châu
Đức quốc xa xôi mà tình huynh đệ nhiệm mầu
Việt Nam tự đủ duyên dựng xây
Khai mối đạo lương duyên trên xứ anh đào nhân thiện
Canh Dần niên đủ duyên khai tạo
Nét chạm trổ mang đạo đến với đời
Mang dáng hình dân tộc đến muôn nơi
Tâm thầy rộng chứa dung khôn kể
Nhâm thìn niên hoàn thành tâm nguyện
Mái chùa cong, vang vọng tiếng kinh trầm
Tuổi đã cao, sức tu thêm thậm thâm
Phật pháp nhiệm mầu, muôn vàn vi diệu
Đối với tổ đức tông môn:
Nụ cười Phật sự, lòng Thầy hoan hỷ
Nhất tâm dựng xây, trùng kiến phát huy
Tổ đường, liễng đối, màn trướng, hoành phi
Mang hồn dân tộc trên xứ khách quê xa, muôn điều khó nhọc
Bao nhiêu công trình còn đó
Vẫn còn trong giai đoạn thi công,
Chưa trọn tâm nguyện dựng xây
Trao cho hậu thế. 
Mà Thầy đã nhẹ gót Tây quy
Nhưng hôm nay thật đau đớn thay:
Duyên trần đến hồi phải mãn
Tụ tán quy luật thường tình
Trước dòng sinh tử-diệt sinh
Thầy vội Tây Phương nhẹ bước
Thân tứ đại có hồi đau ốm, mà chí vẫn Như nhiên
Xác ngũ uẩn đến khi suy yếu, nhưng nguyện sâu như Thánh vẫn vững bền!
Kể từ nay:
Lời dạy bảo vẫn còn văng vẳng
Nhưng dung nghi chẳng thấy nơi đâu
Chúng con thành kính khẩn thiết nguyện cầu
Cho Thầy trần lao vãn phãng.
Ao thất bảo trang nghiêm kết bạn
Nước Liên Trì có dáng ân sư
Chúng con tất dạ tạ từ
Bậc Thầy giới thân đức độ
Tổ đình việt Nam ai lâm mẫn cố
Tăng ni Việt Nam khắc cốt ghi tâm
Nhớ thương Thầy bóng dáng ai lân
Cầu nguyện xứ liên đài Thầy mĩm cười nhẹ bước
Kính bạch giác linh Thầy
Thầy là mẫu người: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Thầy chỉ dạy tứ chúng từng li, từng tí trong cách ăn, thói ở giữa cuộc đời. Giáo dục chúng Tăng bằng những tinh hoa chắt lọc từ những Phật học đường, Phật học Viện mà Thầy đã trải qua. Với tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến, Thầy thiện thệ qua bẫy đời giăng bủa chẳng nao nung. Khế lý, khế cơ nắm trong tay tùy duyên độ chúng. Tùy thời, tùy thế giữ trong lòng uyển chuyển đối nhân. Đạm bạt một đời để chăm lo cho hạnh phúc tha nhân, còn tấm thân thì gầy guột, héo mòn, bệ rạt. Thầy không ngại nắng mưa, gió sương, khuya sớm - cô thân, lẻ bóng, độc hành làm việc vì chúng con còn quá nhỏ không thể sớt chia. Đã bao lần Thầy dạy chúng con, trời đất vô cùng phải vững chải bước đi. Mỗi bước chân qua phải mang hương hoa cho cuộc sống.
Cả cuộc đời Thầy là chuỗi dài của sự thầm lặng hi sinh. Thầy mở rộng vòng tay, không một chút nề hà. Noi gương chí nguyện của Thầy, chúng con nguyện tiếp bước Thầy để kế tục khai lai, dựng xây hạnh nguyện độ sanh viễn xứ, để Tông môn vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang. Huynh đệ anh em chúng con đây sẽ chăm lo cho đàn em ăn học.
Mai đây, cuộc hành trình của hàng hậu học của Thầy sẽ bủa ra trăm hướng, và sẽ chẳng còn khó khăn nào nữa có thể làm nhục ý chí trượng phu mà Thầy đã ung đúc, tác tạo cho đâu. Thầy đã từng nhắn gởi chúng con rằng: “Bỉ ký trượng phu ngã diệc dĩ”(Kia trượng phu ta cũng trượng phu). Ý chí, nghị lực ấy đã tiếp cho chúng con sức mạnh để vượt qua những cơn bĩ cực của thế thái nhân tình.
Thầy đi rồi, Trượng thất đìu hiu, gió lộng vầng trăng tê tái,
Thầy đi rồi, Thiền đường quạnh vắng, lá rơi mặt đất não nùng.
Thầy đi rồi ! Giảng đường bặt tiếng phạm âm, Thích chúng gục đầu buồn tủi,
Thầy đi rồi ! Chánh điện lặng lời phục nguyện, Môn đồ nuốt lệ xót xa.
Chúng con,
Đôi mắt rưng rưng, quỳ thấp đôi chân kính lạy, Giác linh Thầy Phật quốc cao đăng,
Đôi mắt rưng rưng, chấp cao đôi tay khấn nguyện, Giác linh Thầy trực vãng Lạc bang.
Kính thương Thầy vô hạn,
Chúng con cung kính đảnh lễ kính Thầy.


Kính nguyện giác linh Hòa thượng thùy từ minh giám.
NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÚC THÁNH TÔNG TỨ THẬP TỨ THẾ, NHẬT BẢN KHAI SƠN VIỆT NAM TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG, HÚY THƯỢNG NGUYÊN HẠ PHÁP, TỰ MINH TUYỀN, LÊ CÔNG HÒA THƯỢNG GIÁC LINH.

Tăng Ni Phật tử Việt Nam tại Nhật đồng kính lễ giác linh Thầy.
TK. Thích Nhuận Phổ

Địa chỉ: Chùa Hòa Lạc Kobeshi, Nagataku Higashi Shiriike 8-2-14. 653-0022
Chùa Đại Nam Himeji, Shigocho, Sakamoto 157-1.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2010(Xem: 11237)
Hòa Thượng THÍCH QUẢNG TÂM (1947 - 2010), húy Như Hảo, thế danh Lê Tấn Quang, sinh ngày 12 tháng 8 năm Đinh Hợi (1947) tại làng Thạch Trụ huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình nhiều đời thâm tín Tam Bảo và có truyền thống xuất gia tu học.
23/09/2010(Xem: 8991)
Hòa Thượng Thích Phước Huệ sanh năm 1922, tại ấp Mỹ Thủy, xã Thạnh Mỹ Lợi, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Thân phụ là cụ ông Trần Văn Hoạch, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ngọc.
19/09/2010(Xem: 11206)
Ngay từ hồi nhỏ tâm hồn tôi đã hướng về đạo Phật. Tôi it nói, sống trong trầm lặng, ham đọc sách, nhất là những sách về đạo Phật viết cho trẻ em. Tôi chỉ có vài đứa bạn cũng giống tính tôi, gặp nhau thì vào buồng thủ thỉ thù thì nói chuyện với nhau. Cha tôi buôn bán lớn, giao thiệp nhiều, và cũng như phần đông các nhà kinh doanh hồi đó, đều quen biết các vị sư và đóng góp nhiều cho chùa chiền. Khi các thầy đến thăm cha tôi, lúc nào tôi cũng đứng gần nghe ngóng say sưa và dâng trà cho các thầy.
04/09/2010(Xem: 9370)
"Cây héo vào xuân hoa nỡ rộ Gió đưa nghìn dặm nức hương thần." Thiền Uyển Tập Anh ( Anh Tú Vườn Thiền) ghi về sư như sau: " Thiền Sư Viên Chiếu (999-1090) thuộc thế hệ thứ bảy dòng Vô Ngôn Thông.Thiền Sư họ Mai, tên Trực người huyện Long Đàm châu Phúc Điền, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý. Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưỡng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ.
21/08/2010(Xem: 15704)
Tại một ngôi chùa Việt ở Bangkok (Thái Lan), nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái vẫn còn nguyên vẹn hình hài sau hơn 50 năm kể từ khi ngài viên tịch. Tọa lạc tại khu Yaowarat (khu phố Tàu) ở Bangkok, ngôi chùa mang tên rất Việt Nam là Khánh Vân có một lịch sử lâu đời do các Hòa thượng người Việt thành lập. Đây là một trong những ngôi chùa Việt thuộc hệ Annamnikaya hay còn gọi là An Nam Tông ở Bangkok. Chính tại chùa Khánh Vân này, nhục thân của Hòa thượng Thích Phổ Sái (pháp danh Giác Lượng), một nhà tu hành gốc Việt, được lưu giữ và thờ cúng.
18/07/2010(Xem: 9897)
Kính bạch Sư Tổ! Chúng con đang tập tiếp xúc với Người qua hình ảnh một bậc thầy già chốn núi rừng Dương Xuân. Một túp liều tranh, một bà mẹ già và với ba người đệ tử. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Sư Tổ. Người có thời gian chăm sóc mẹ già và trao truyền những hoa trái tu học cho những người học trò yêu quý. Xuất thân từ làng Trung Kiên – một vùng đất Phật giáo ở Quảng Trị, Sư Tổ đã đến chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) núi Hàm Long – Huế, để xuất gia học đạo với Thiền sư Phổ Tịnh, lúc đó Người chỉ mới lên bảy tuổi. Đến năm 30 tuổi, nhận thấy nơi Sư Tổ có chí khí của một bậc Xuất trần nên Sư Tổ được Bổn sư phú pháp truyền đăng với bài kệ: Nhất Định chiếu quang minh Hư không nguyệt mãn viên Tổ tổ truyền phú chúc Đạo Minh kế Tánh Thiên.
04/07/2010(Xem: 13874)
-Người đi tiên phong và nỗ lực không mệt mỏi cho sự nghiệp phát triển trí tuệ, từ bi và hòa bình- -Nhà lãnh đạo toàn cầu trong phong trào vì hòa bình, nhân quyền và sức khỏe cộng đồng-
14/06/2010(Xem: 8419)
Hòa Thượng Thích Bích Nguyên là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Lâm Đồng. Ngài họ Nguyễn, húy là Tùng, sinh năm 1898 tại làng Duy Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ, bẩm chất thông minh, đĩnh ngộ. Thời tráng niên, lập nghiệp ở Lào, Hòa Thượng nhân đọc báo Từ Bi Âm mà ngộ đạo, thấy rõ cuộc đời vô thường, nuôi chí xuất gia. Đến năm 29 tuổi (1927), Hòa Thượng mới có đủ nhân duyên đầu sư thọ giáo với Hòa Thượng PHƯỚC HUỆ, Trú trì chùa Hải Đức, Huế và đắc giới Sa di năm 1934. Năm 1936, ngài thọ Cụ túc giới với pháp hiệu BÍCH NGUYÊN, rồi theo học ở các lớp Phật học tại các Phật học viện Hải Đức, Bảo Quốc và Ấn Quang.
15/05/2010(Xem: 8124)
Thiền sư Khánh Hòa sinh năm 1877 tại làng Phú Lễ tỉnh bến Tre, xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Khải Tường. Chí nguyện chấn hưng Phật giáo của ông phát sinh vào khoảng năm ông được bốn mươi tuổi. Ông du hành khắp các tổ đình và Nam Kỳ để gây ý thức chấn hưng và kêu gọi sự hợp tác của các bậc tôn túc.