Điếu Văn Tưởng Niệm HT Thích Minh Tuyền

01/09/201717:29(Xem: 8795)
Điếu Văn Tưởng Niệm HT Thích Minh Tuyền



Chan Dung HT Thich Minh Tuyen_1938-2017-b
ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM ÂN SƯ

HUÝ THƯỢNG MINH HẠ TUYỀN


Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch chư Hòa Thượng hội đồng chứng minh tang lễ
Kính bạch chư Tôn đức trong Ban Tang Lễ.
Kính bạch chư Tôn đức hiện diện

Cho phép con thay mặt Tăng Ni tại Nhật bản có đôi lời kính niệm bậc ân sư
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Hàng Tăng ni đệ tử chúng con cung thủ, phủ phục đê đầu đảnh lễ Giác linh Thầy
Kính lạy Thầy,
Vào giờ này một nỗi đau quặn thắt đang ngự trị giữa cõi lòng của hàng thất chúng đệ tử phủ phục trước linh sàng của Thầy, nói sao cho hết những nỗi niềm thương kính
Hỡi ôi
Xứ Phù tang mây trời như kín lại
Đến chư thiên cũng khe khẽ thầm thì
Tiễn thầy về trên lối vô vi
Hàng thất chúng muôn phần thương tiếc
Bóng thời gian xiêu đổ, mờ nhạt cuối trời xa
Thầy ung dung quay gót, nhẹ ngang chốn Ta Bà
Chúng con kính tường
Thuở ấu nhi 7 tuổi thầy gặp tôn sư, nghiên tầm bắt đầu học đạo
Đầy đủ thắng duyên, chùa Bửu Tích, Viên Trí hòa thượng cho thế phát xuất gia gieo mầm thánh chủng
Viện Phật học Hải Đức Nha Trang, thuở thiếu thời nung kinh nấu sử chẳng ngại khó khăn
Thuận thế thường luân, Nha trang xứ chứng minh, giới hạnh viên dung tỳ kheo Minh Tuyền đắc pháp hiệu
Từ đó
Minh chơn tỏa rạng, trung ý từ lương, khởi phát tuệ đăng
Tuyền thông khai lạch, nguyện tâm hải hà, vân du hành đạo
Lịch sử đã ghi dòng:
Đồng chân xuất gia từ thuở nhỏ
Nhập đạo vững một đường tu
Giới tướng viên dung, như trăng sáng xóa mây mù
Hạnh đức kiêm ưu, tợ đất trời tinh túy
24 tuổi kiêm toàn phần ưu tú học
Đất phương nam du hóa thỏa nguyện bút nghiên
Thủ Đức - Hàng Xanh, pháp Tạng tự dựng xây khai chốn tổ
Tuổi 34 đến phù tang quyết tìm sự học từ nguyên
Cao quý thay
Sức việt máu lạc hồng vun đầy trong huyết mạch
Dựng đạo bởi từ tâm thương mến đến cội nguồn
Dẫu hoang sơ vẫn kiên định trong niềm tin với đấng từ tôn
Gieo hạt giống thiện, cưu mang hồn dân tộc
Tháng năm lần lựa
Khổ đau nhường lối vô sinh
Hạnh từ hòa tuệ trí cao minh
Xứng đáng là bậc xuất trần thượng sĩ
Thầy mượn thân tứ đại
Lúc Hoa Kỳ, khi lại đến Úc châu
Đức quốc xa xôi mà tình huynh đệ nhiệm mầu
Việt Nam tự đủ duyên dựng xây
Khai mối đạo lương duyên trên xứ anh đào nhân thiện
Canh Dần niên đủ duyên khai tạo
Nét chạm trổ mang đạo đến với đời
Mang dáng hình dân tộc đến muôn nơi
Tâm thầy rộng chứa dung khôn kể
Nhâm thìn niên hoàn thành tâm nguyện
Mái chùa cong, vang vọng tiếng kinh trầm
Tuổi đã cao, sức tu thêm thậm thâm
Phật pháp nhiệm mầu, muôn vàn vi diệu
Đối với tổ đức tông môn:
Nụ cười Phật sự, lòng Thầy hoan hỷ
Nhất tâm dựng xây, trùng kiến phát huy
Tổ đường, liễng đối, màn trướng, hoành phi
Mang hồn dân tộc trên xứ khách quê xa, muôn điều khó nhọc
Bao nhiêu công trình còn đó
Vẫn còn trong giai đoạn thi công,
Chưa trọn tâm nguyện dựng xây
Trao cho hậu thế. 
Mà Thầy đã nhẹ gót Tây quy
Nhưng hôm nay thật đau đớn thay:
Duyên trần đến hồi phải mãn
Tụ tán quy luật thường tình
Trước dòng sinh tử-diệt sinh
Thầy vội Tây Phương nhẹ bước
Thân tứ đại có hồi đau ốm, mà chí vẫn Như nhiên
Xác ngũ uẩn đến khi suy yếu, nhưng nguyện sâu như Thánh vẫn vững bền!
Kể từ nay:
Lời dạy bảo vẫn còn văng vẳng
Nhưng dung nghi chẳng thấy nơi đâu
Chúng con thành kính khẩn thiết nguyện cầu
Cho Thầy trần lao vãn phãng.
Ao thất bảo trang nghiêm kết bạn
Nước Liên Trì có dáng ân sư
Chúng con tất dạ tạ từ
Bậc Thầy giới thân đức độ
Tổ đình việt Nam ai lâm mẫn cố
Tăng ni Việt Nam khắc cốt ghi tâm
Nhớ thương Thầy bóng dáng ai lân
Cầu nguyện xứ liên đài Thầy mĩm cười nhẹ bước
Kính bạch giác linh Thầy
Thầy là mẫu người: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Thầy chỉ dạy tứ chúng từng li, từng tí trong cách ăn, thói ở giữa cuộc đời. Giáo dục chúng Tăng bằng những tinh hoa chắt lọc từ những Phật học đường, Phật học Viện mà Thầy đã trải qua. Với tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến, Thầy thiện thệ qua bẫy đời giăng bủa chẳng nao nung. Khế lý, khế cơ nắm trong tay tùy duyên độ chúng. Tùy thời, tùy thế giữ trong lòng uyển chuyển đối nhân. Đạm bạt một đời để chăm lo cho hạnh phúc tha nhân, còn tấm thân thì gầy guột, héo mòn, bệ rạt. Thầy không ngại nắng mưa, gió sương, khuya sớm - cô thân, lẻ bóng, độc hành làm việc vì chúng con còn quá nhỏ không thể sớt chia. Đã bao lần Thầy dạy chúng con, trời đất vô cùng phải vững chải bước đi. Mỗi bước chân qua phải mang hương hoa cho cuộc sống.
Cả cuộc đời Thầy là chuỗi dài của sự thầm lặng hi sinh. Thầy mở rộng vòng tay, không một chút nề hà. Noi gương chí nguyện của Thầy, chúng con nguyện tiếp bước Thầy để kế tục khai lai, dựng xây hạnh nguyện độ sanh viễn xứ, để Tông môn vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang. Huynh đệ anh em chúng con đây sẽ chăm lo cho đàn em ăn học.
Mai đây, cuộc hành trình của hàng hậu học của Thầy sẽ bủa ra trăm hướng, và sẽ chẳng còn khó khăn nào nữa có thể làm nhục ý chí trượng phu mà Thầy đã ung đúc, tác tạo cho đâu. Thầy đã từng nhắn gởi chúng con rằng: “Bỉ ký trượng phu ngã diệc dĩ”(Kia trượng phu ta cũng trượng phu). Ý chí, nghị lực ấy đã tiếp cho chúng con sức mạnh để vượt qua những cơn bĩ cực của thế thái nhân tình.
Thầy đi rồi, Trượng thất đìu hiu, gió lộng vầng trăng tê tái,
Thầy đi rồi, Thiền đường quạnh vắng, lá rơi mặt đất não nùng.
Thầy đi rồi ! Giảng đường bặt tiếng phạm âm, Thích chúng gục đầu buồn tủi,
Thầy đi rồi ! Chánh điện lặng lời phục nguyện, Môn đồ nuốt lệ xót xa.
Chúng con,
Đôi mắt rưng rưng, quỳ thấp đôi chân kính lạy, Giác linh Thầy Phật quốc cao đăng,
Đôi mắt rưng rưng, chấp cao đôi tay khấn nguyện, Giác linh Thầy trực vãng Lạc bang.
Kính thương Thầy vô hạn,
Chúng con cung kính đảnh lễ kính Thầy.


Kính nguyện giác linh Hòa thượng thùy từ minh giám.
NAM MÔ TỪ LÂM TẾ CHÚC THÁNH TÔNG TỨ THẬP TỨ THẾ, NHẬT BẢN KHAI SƠN VIỆT NAM TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG, HÚY THƯỢNG NGUYÊN HẠ PHÁP, TỰ MINH TUYỀN, LÊ CÔNG HÒA THƯỢNG GIÁC LINH.

Tăng Ni Phật tử Việt Nam tại Nhật đồng kính lễ giác linh Thầy.
TK. Thích Nhuận Phổ

Địa chỉ: Chùa Hòa Lạc Kobeshi, Nagataku Higashi Shiriike 8-2-14. 653-0022
Chùa Đại Nam Himeji, Shigocho, Sakamoto 157-1.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/11/2010(Xem: 10521)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11226)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10571)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 15548)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 46996)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 9926)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 8476)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8646)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8465)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8303)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự