Tác bạch Cúng Dường Trai Tăng

13/06/201609:57(Xem: 32851)
Tác bạch Cúng Dường Trai Tăng
Tác bạch Cúng Dường Trai Tăng
(11am, ngày 13-6-2016)

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam mô A Di Đà Phật

Ngưỡng bái bạch trên Trưởng lão Hòa Thượng chứng minh.

Ngưỡng bái bạch chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Đại Đức Ni.
Hôm nay, toàn thể tang gia hiếu quyến chúng con có duyên sự đầu thành đảnh lễ xin tác bạch.(lạy 1 lạy )

Nam mô A Di Đà Phật
Ngưỡng bạch Chư Tôn Đức!
Vào giờ này toàn thể gia quyến chúng con quỳ trước Phật đài, quỳ trước Chư Tôn đức trong không khí trang nghiêm thanh tịnh. Chúng con vô cùng xúc động, không biết đã tạo được phúc duyên gì, được Chư Tôn Đức từ bi thương xót, đáp lại lời thỉnh cầu của tang quyến chúng con, chấn tích quang lâm về đạo tràng Tu viện Quảng Đức để chứng minh và tụng kinh cầu nguyện cho thân mẫu chúng con. Với tấm thâm tình cao cả ấy, gia đình chúng con không biết lấy gì đáp đền cho cân xứng, chỉ biết thành tâm đê đầu đảnh lễ bái tạ thâm ân của quý Ngài.
Và chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là nhục thân của thân mẫu chúng con về nơi an nghỉ cuối cùng. Đứng trước nghịch cảnh đau thương ấy, gia đình chúng con thật đau xót thương tiếc, nhưng đành ngậm ngùi rạt lệ tiễn đưa Người Mẹ hiền về bên kia thế giới.
Chúng con vẫn biết rằng: “ Nhân sanh đại mộng
Thế sự vô thường”.
Đời người 100 năm như giấc mộng, nhưng đứng trước cảnh sanh ly tử biệt. Gia quyến chúng con vẫn ngậm ngùi thương tiếc.
Chúng con nhớ mới ngày nào, Mẹ còn trò chuyện vui vẻ nói cười với chúng con. Còn ngồi chung mâm với con với cháu, gấp cho mỗi đứa từng miếng ăn......nhưng nay
Cơm lạnh, canh đầy đau lòng xót dạ
Lửa tắt, nhang tàn giọt lệ trào dâng
Oâi Mẹ hiền kính yêu! Đã tảo tần nhọc nhằn, hy sinh cả đời mình cho chúng con được no ấm.
Mẹ một đời lam lũ vì con
Gian truân mấy độ sức mòn vẫn vui
Dầu Mẹ khổ cực nhọc nhằn nhưng khi nhìn thấy chúng con sung sướng là Mẹ nở nụ cười sung sướng, không than vãn.
Oâi tình Mẹ cao thượng bao la quá. Chúng con chưa kịp đáp đền thâm ân dưỡng dục thì Mẹ đã về với cõi Phật.
Hoa này tàn hoa khác nở
Nhưng Mẹ mất rồi muôn thuở tìm đâu
Kính bạch quý ngài.!
Nay chúng con chỉ biết vâng lời Phật dạy,tạm gát niềm đau, noi theo gương hiếu hạnh của Tơn Giả Mục Kiền Liên.

Gia quyến chúngcon thành tâm sắm sữa trai nghi trên dâng cúng thập phương chư phật,thứ cúng hiện tiền chư tơn đức Tăng, Ni.
Chúng con nguyện đem công đức này hồi hướng cho thân mẫu chúng con là Sa di ni Diệu Niệm.

Lễ tuy bất túc nhưng lòng cung kính hữu dư. Kính nguyện Chư Tôn Đức từ bi ai mẫn chứng minh,hứa khả nạp thọ cho pháp cúng dường này,để cho gia quyến chúng con được gội nhuần cơng đức.

Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2011(Xem: 7983)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 8081)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 9221)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 8030)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 9088)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17650)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 9201)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 10455)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8873)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9577)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.