Thêm một người đi xa

27/05/201608:07(Xem: 6870)
Thêm một người đi xa
Nguyen Minh Can 2
Thêm một người đi xa


Tôi gặp anh chỉ một lần. Mười sáu năm trước, rất dễ nhớ vì năm đó là năm 2000. Bác Sĩ Lâm Thu Vân đề nghị tôi đến Montreal để góp phần trong một chương trình nhiều diễn giả thuyết trình chung quanh chủ đề “Hướng đi nào cho dân tộc Việt Nam”. Một diễn giả đến từ Nga là nhà báo Nguyễn Minh Cần.

Bên cạnh các thế hệ đàn anh, lớp trẻ chúng tôi tham dự chương trình này khá đông. Ngoài tôi còn có Ls Nguyễn Xuân Phước và một số luật sư trẻ từ California. Phước bay từ Dallas sang Boston và từ Boston chúng tôi lái xe qua Canada.

Sau phần thuyết trình buổi sáng, Phước bảo tôi, “Chiều nay ông và tôi sẽ gặp riêng anh Nguyễn Minh Cần. Buổi sáng đông người nói không hết ý, ai cũng thận trọng quá đáng. Tôi lấy hẹn với ảnh rồi”. Phước gặp ai và ở đâu cũng bắt chuyện dễ dàng nhưng hôm đó lấy hẹn chẳng qua vì lòng kính trọng dành cho anh.

Chúng tôi ngồi trong phòng nhỏ. Phước ra ngoài đóng cửa lại để không bị quấy rầy. Thái độ cẩn thận của Phước làm anh Nguyễn Minh Cần cũng có chút ngạc nhiên, có gì bí mật chăng. Thật ra không có gì cả. Chúng tôi đều đã đọc nhau trước và Phước rất vui tính nên cuộc hẹn diễn ra rất thoải mái dù chỉ mới gặp nhau lần đầu. Khác với buổi sáng nói năng rào đón, ba anh em nói chuyện không kiêng cữ. Anh kể khá nhiều về hành trình từ Hà Nội sang Nga từ 1962 cho đến năm 2000.

Cuối cuộc hẹn, Phước nhìn anh và hỏi một cách trân trọng “Anh có gì để lại cho bọn em không?” Anh Nguyễn Minh Cần biết đó không phải là câu hỏi dành cho người sắp chết mà là câu hỏi chân thành của những người thuộc thế hệ sau nhìn lên thế hệ trước.

Anh không trả lời trực tiếp nhưng nói rất thâm trầm về đời sống tinh thần của anh, về đạo Phật, về Niệm Phật Đường Thảo Đường vừa được hoàn thành. Anh chỉ muốn để lại kinh nghiệm, kiến thức nhưng tương lai Việt Nam sẽ đặt nặng trên vai của các thế hệ hôm nay. Anh thuộc về quá khứ. Anh sẽ tiếp tục viết những nhận định chính trị và về chế độ CS nhưng không phải với tư cách là người hoạt động mà để giúp tăng thêm hành trang kiến thức cho các thế hệ đang đấu tranh cho tự do dân chủ.

Tôi và Phước không dám nói gì về đời sống tinh thần của anh nhưng mong anh cố gắng tiếp tục đóng góp cho công cuộc vận động dân chủ còn nhiều khó khăn và cũng bởi vì đảng CS ngày nay cũng chính là đảng CS mà anh đã đương đầu mấy mươi năm trước. Anh đồng ý và từ đó giữ liên lac, đọc nhau và không quên nhau như mới đây anh còn nhắc trong bài viết về Gs Nguyễn Ngọc Bích. Anh rất buồn khi nghe tin anh Nguyễn Ngọc Bích ra đi. Anh mất đi một người bạn đã nhiều lần gặp gỡ. Qua anh Nguyễn Ngọc Bích, anh cảm nhận được giá trị của nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

Tôi ngậm ngùi đọc bài anh viết về Gs Nguyễn Ngọc Bích và rồi ngậm ngùi hơn khi biết tin anh cũng vừa ra đi.

Cả ba người trong chuyến xe lịch sử mà tôi gặp, anh, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và Luật sư Nguyễn Xuân Phước đều lần lượt qua đời. Rồi ai nữa, không ai biết, nhưng có một điều mà tôi, và chắc nhiều người cũng đồng ý, vì đời người vô cùng ngắn ngũi hãy sống hết lòng với nhau như mình sẽ không còn sống ngày mai.

Xin chia buồn cùng tang quyến và cầu nguyện hương linh cư sĩ Thiện Mẫn Nguyễn Minh Cần siêu thăng Tịnh Độ.

Boston, Hoa Kỳ 16-5-2016
Trần Trung Đạo

https://uyennguyen.net/2016/05/17/tran-trung-dao-them-mot-nguoi-di-xa/
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10865)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37764)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15175)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10668)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11391)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10757)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17078)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48767)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10130)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).