Những hàng cây cao

16/04/201607:50(Xem: 9185)
Những hàng cây cao

 HT Nhu hue





NHỮNG  HÀNG  CÂY CAO
 
 Kính dâng Hòa Thượng Như Huệ

  

  

  Chúng ta thường thấy những dãy núi cao sừng sững chạy dài hàng ngàn cây số, hay những khu rừng bạt ngàn sâu thẳm, nơi ấy có những cây đã sống năm bảy trăm năm, hoặc hàng ngàn năm trên trái đất nầy mà nhiều người trông thấy thật hùng vĩ.

   Quê hương Việt Nam, miền Bắc có dãy Hoàng Liên Sơn, miền Trung có dãy Trường sơn, những núi đồi này có những cây cao bóng mát tỏa khắp một vùng, tụ lại khí vượng thiêng liêng, để rồi nơi ấy, chốn ấy, đã ra đời và cho đời những con người làm được nhiều lợi ích và điểm tô cho cõi hồng trần vài tia nắng ấm!

  Đứng trước những hàng cây cao chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái và yêu thích về cảnh vật thiên nhiên. Vạn vật đều do duyên sinh, cho nên người và cỏ cây hoa lá đều là một, hiểu được như vậy, nhìn được như vậy, thì chúng ta và tất cả vạn sự, vạn vật trên cuộc đời này không có sự phân chia .

  Về con người, chúng tôi biết Hòa Thượng Như Huệ vào những thập niên 1970-1971…, lúc bấy giờ Thầy là Đại Đức Như Huệ, Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Quảng Nam. Thừa Thiên Huế và Quảng Nam cách nhau qua đường đèo Hải Vân.

Một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam, ảnh hưởng cuộc chấn hưng của Phật giáo Trung Quốc do Đại Sư Thái Hư khởi xướng, mà sau đó Phật giáo Việt Nam đã được hồi sinh vào những năm:1920-1931 và đến 1935; những tháng năm này tại miền Trung có Phật Học Đường Tây Thiên tại Huế, nuôi dưỡng và đào tạo do công đức của Quốc Sư Phước Huệ. Từ Bình Định ra Huế giảng dạy, và tại Huế có Pháp Sư Phổ Huệ, Tịnh Khiết, Giác Tiên, Giác Nguyên và Giác Nhiên…Hòa Thượng Giác Nhiên ( Đức Đệ Nhị Tăng Thống) làm Giám đốc Phật Học Đường Tây Thiên, đã đào tạo những vị tài đức vẹn toàn như quý Ngài: Chánh Thống, Chánh Huy, Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Thiện Hòa, Thiện Hoa và nhiều bậc cao Tăng đã làm nên trang sử cho Phật giáo Việt Nam trong thời cận đại mà sau một quãng đường dài dưới thời Pháp thuộc và những triều đại sau này…

    Hòa Thượng Đôn Hậu, Mật Nguyện đã từng vào Quảng Nam để giảng dạy,  xây dựng và đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni Phật tử tại Quảng Nam và Hòa Thượng Như Huệ từ Quảng Nam ra Huế lưu trú tại chùa Linh Quang và thường đến văn phòng Giáo hội chùa Từ Đàm họp bàn những Phật sự. Bản thân tôi đã từng gặp Hòa Thượng Như Huệ tại văn phòng chùa Từ Đàm mà lúc bấy giờ Hòa Thượng Mật Nguyện làm Chánh đại diện Phật giáo Thừa Thiên Huế.

 Thời gian lững lờ trôi… biển đời duyên nghiệp vẫn còn rong ruổi trong mỗi kiếp người, những tháng năm yên tĩnh nơi chốn thiền môn không còn nữa… Tôi và mọi người dân nước Việt âm thầm lặng lẽ cất bước ra đi … Nhân duyên cơ mà, tôi đã gặp lại Hòa Thượng Như Huệ vào năm 1990 tại Úc châu, lúc này Thầy là Thượng Tọa Như Huệ làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, và sau đó Hòa Thượng Như Huệ được Tăng Ni tín đồ Phật tử liên bang Úc châu – Tân Tây Lan cung cử lên ngôi Hội chủ cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, suốt thời gian bốn nhiệm kỳ mười sáu năm .

  Những tháng năm tôi đến Úc châu làm việc Giáo hội dưới quyền lãnh đạo của Hòa Thượng Như Huệ, mỗi lần gặp Hòa Thượng thường kể chuyện xưa: Chuyện Phật giáo thời 1963-1966-1975…;chuyện quý Ôn, quý Thầy tại Chùa Ấn Quang Sài Gòn, Việt Nam Quốc Tự, Phật Học Đường Nam Việt Ấn Quang, Phật Học Đường Tây Thiên, Phật Học Viện Bảo Quốc Huế; chuyện Phật Giáo Úc châu- Tân Tây Lan, Phật Giáo Liên Châu và chuyện hành điệu thời kỳ còn nhỏ, và nhiều khi hứng khẩu tôi và Hòa Thượng tán tụng bài Nhất Điện- Nhị Điện trong các khoa nghi .

  Và hôm nay được biết Hòa Thượng Như Huệ, Chứng minh Đạo sư của Giáo hội pháp thể khiếm an…! Tôi thật đáng ưu tư cho Ngài, trong mỗi chúng ta ai cũng có những kỷ niệm....Hoài niệm về kỷ niệm của một thời mà mỗi khi nhớ đến mấy ai không khỏi chạnh lòng .

   Những hàng cây cao sừng sững giữa biển trời tự bao giờ?- Chúng ta yên lặng đứng nhìn những hàng cây cao vút mà trong đó có những loại cây gỗ quý, là những bảo vật để lại cho đời…

    Người cầm bút viết bài này qua sự giới thiệu từ Thượng Tọa Nguyên Tạng đương kim Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức; Người viết lấy tiêu đề: NHỮNG HÀNG CÂY CAO, để nói lên những gì mà tự chính mình đã cảm nhận.

 

    Từ nguyên thủy rừng già dòng suối chảy

    Bưởi hoa vườn mưa tạnh ửng phù dung

    Tình đá tượng vẫn còn nguyên vẹn lắm

    Gióng hồi chuông xứ Quảng mộng hồi sinh

   

                                                           

   

Nam Mô A Di Đà Phật

Viết tại liêu phòng trong buổi chiều đông 

Tân Tây Lan-Giác Nhiên Tự, 13-4-2016-Bính Thân

 

Thích Trường sanh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10344)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10173)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12927)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8733)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14778)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8525)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8951)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10138)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8881)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14512)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.