Niệm Ân Hòa Thượng

14/03/201606:08(Xem: 10183)
Niệm Ân Hòa Thượng



hT Huyen Ton

NIỆM ÂN HÒA THƯỢNG


 

Thời gian lẳng lặng trôi… từng giây, từng phút, từng giờ… tưởng chừng như chậm lắm, thế mà thoắt một cái, chợt nhìn lại đã 37 năm rồi kể từ ngày con đến Úc và nhận nơi đây như là quê hương thứ hai của mình. Con nhớ có một hôm, người bạn đưa vợ chồng con đến thăm một ngôi chùa nhỏ, lúc đó con mới đến Úc khoảng hơn 1 năm và vừa dọn về sống tại Richmond, hình như ngôi chùa nhỏ cũng nằm ở vùng kề cận. Với con lúc đó mọi nơi đều xa lạ nên không có một ý niệm gì về nơi chốn. Chúng con lễ Phật và được một vị Thầy tuổi độ khoảng 50 tiếp chuyện, con nghe người bạn giới thiệu: “Đây là Thầy Thích Huyền Tôn.” Và Thầy là vị Thầy đầu tiên con được biết trên đất Úc. Hôm đó vì bận con nhỏ nên chỉ có mình chồng con hầu chuyện với Thầy. Sau một hồi hàn huyên chúng con xin cáo từ. Thế rồi độ khoảng vài tuần sau, Thầy đã đến thăm chúng con tại căn flat thuộc chung cư của chính phủ. Mở cửa ra thấy Thầy con vừa ngạc nhiên, vừa cảm động. Sau lần thăm viếng đó của Thầy, lời hứa thỉnh thoảng sẽ đến thăm Thầy, chúng con đã không giữ trọn, lẽ vì phương tiện di chuyển chưa có, lại không rành nơi chốn, hơn nữa phải bôn ba lo cho cuộc sống mới trên xứ người, đồng thời giúp đỡ người thân nơi quê nhà nên chúng con chẳng có thời gian đi đây đi đó. Sau này con có nghe Thầy di chuyển về nơi khác, lại càng không biết nơi đó ở đâu, nên đã quên đi vị Thầy đầu tiên được gặp.

Mãi đến hơn 20 năm sau, khi con về sinh hoạt tại Tu Viện Quảng Đức, con mới gặp lại vị Thầy năm xưa, bây giờ là một Hòa Thượng uy nghi đức độ. Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, hiện nay Trụ Trì Chùa Bảo Vương và là Tăng Giáo Trưởng của GHPGVNTNHN UĐL-TTL.

Qua 16 năm sinh hoạt tại TV Quảng Đức con được gặp Hòa Thượng nhiều lần, được nghe, được thấy và hiểu về Hòa Thượng nhiều hơn. Biết được Ngài là một bậc chân tu thạc đức uyên thâm kinh sử, lúc nào cũng quan tâm đến hàng hậu học, sẵn sàng truyền trao những sở kiến của Ngài về Giáo lý Phật cho cả hàng xuất gia lẫn tại gia. Đôi khi con thầm nghĩ, phải chi thời xưa cũ, ý thức về Đạo trong con rõ ràng hơn…; nếu con theo từng nơi chốn Hòa Thượng đến, đi thì có lẽ giờ đây con cũng đã lãnh hội được một phần nào tri kiến của Hòa Thượng, bởi tánh của Hòa Thượng rất dung dị dễ gần gũi. Âu có lẽ cũng do nghiệp con nặng chưa đủ phước để được làm đệ tử của Hòa Thượng.

Trong buổi Thiền Trà Đạo Tình cuối Khóa An Cư Kiết Đông năm 2011 tại TV Quảng Đức, con được nghe Thầy Đồng Thanh ngâm bài thơ Tuổi Tức Từ do Hòa Thượng sáng tác. Giọng của Thầy trầm ấm, xen lẫn chút nghẹn ngào:

Ngày con mười ba tuổi,                                 
 Mẹ vĩnh biệt con rồi!
Qua bảy năm đuổi quạ,
 Đời con giờ cút côi!
Tức từ, từ độ ấy,
Lòng trĩu nặng chia phôi
Dù hơn trăm Huynh đệ
Mà vẫn thấy đơn côi
Núi rừng chỉ có gió
Đưa tiếng vượn bồi hồi
Mười năm trên sơn lãnh
Ngày nghỉ sáu giờ thôi
Guốc dép không được dụng
Chỉ riêng việc núi đồi
Áo quần vải thô xấu
Trông hoen hoét lọ nồi
Tuổi thơ kham nhẫn quá
Hành điệu nào thảnh thơi!
Lo kệ kinh lễ sám
Đốn cũi chặt cây sồi,
Trồng khoai lang, khoai mỡ…
Tắm mát với mồ hôi
Lấy đá trong sườn núi
Đẵn gỗ lại hầm vôi
Sớm khuya ba thời tụng…
Là nẻo thoát luân hồi
Bình minh tô cháo nhỏ
Quá đường chén cơm đôi
Hoàng hôn ăn rau núi
Cơ thân tạm bổ bồi
Ngày học kinh bốn tiếng
Dạy chúng trẻ mồ côi
Nam Mô, Nam Mô Phật!
Tuổi tức từ của tôi.


Giọng ngâm vừa chấm dứt, tiếng vỗ tay vang dội, nước mắt con cũng đong đầy, cảm thương cho HT cũng như đa số những chú điệu với lứa tuổi ngây thơ mà phải chịu bao điều cơ cực trong những tháng năm hành điệu. Nhưng có phải chăng, nhờ trải qua những gian khổ ấy mà Hòa Thượng cũng như quý Thầy mới đủ nghị lực để có thể vượt qua những thử thách của cuộc đời với nhiều chông gai, thăng trầm trôi nổi hầu có thể trở thành bậc “Long Trượng Thiền Môn” như Hòa Thượng hôm nay. Những gì HT truyền trao cho hàng hậu học, từng lời, từng chữ đều là kết tụ từ sự khó khăn, kiên cường và nhẫn nại. Sự hy sinh của quý Ngài thật vô cùng, ân nghĩa đó biết nói sao cho tận. Chúng con chỉ biết tâm thành đảnh lễ tiếp nhận, mong sao hiểu và thực hành được một phần nào lời dạy của Hòa Thượng để không phụ lòng Ngài.

Tức Từ từ tuổi mười ba
Trải bao gian khổ trôi qua cuộc đời
Vững tâm quyết chí không rời
Lời kinh Phật dạy để đời noi gương
Giờ đây tuổi hạc phong sương
Thong dong tự tại chẳng vương uế trần
Lời ngay thẳng tánh ân cần
Bao nhiêu tri thức dần dần truyền trao
Kiến tri tỏ ngộ chép sao
Lưu đời hậu thế ngày nao tỏ tường
Công Ngài quả thật khôn lường
Tăng Ni, Phật tử kính thương tỏ bày
Nhân ngày Khánh tuế hôm nay
Bách Niên Trường Thọ” lời này kính dâng.


Lòng thành kính dâng lên
Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn.


Melbourne, Xuân Bính Thân 2016

Đệ tử Thanh Phi


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/09/2012(Xem: 9022)
Các bạn thân mến, Tôi lớn lên trong cảnh bất công và quê hương nhuộm đầy máu lửa. Trái tim tôi đã dược nuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương qua những tấm gương của các vị anh hùng yêu nuớc. Tôi yêu lí‎ tưởng Từ Bi của Đức Phật qua tinh thần bất bạo động, tôi không thích tham gia vào các tổ chức và các cuộc đấu tranh. Tôi đã đi dự những khóa tu của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai tổ chức trong một số chùa lớn của ba miền đất nuớc, trong thời gian Thầy về Việt Nam.
07/09/2012(Xem: 9162)
Trước tin Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu viên tịch, tôi xin thành kính có bài ghi lại kỷ niệm phước duyên được nghe ngài thuyết pháp. Đó là thời điểm những năm 1978, 1979… Vào lúc ấy, Tổng vụ Hoằng Pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức thuyết pháp hàng tuần vào lúc 15h chiều chủ nhật tại trụ sở của Giáo hội là chùa Ấn Quang.
02/09/2012(Xem: 13212)
Hòa Thượng Thích Minh Châu sinh năm 1918 tại Quảng Nam. Xuất gia năm 1946 với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế...
29/08/2012(Xem: 7961)
Tôi muốn nói đến Sư Huynh Phổ Hòa, người anh lớn trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tức Huynh Trưởng HỒNG LIÊN Phan Cảnh Tuân khả kính của chúng ta.
23/08/2012(Xem: 11261)
Kính bạch Sắc tứ Thập Tháp Tổ đình, Tân tịch trụ trì Thích Kế Châu, Đại lão Hòa thượng giác linh, tác đại chứng minh. Hôm nay, chúng tôi là những Pháp huynh, Pháp đệ thuộc dòng pháp Chúc Thánh, Tổ đình thứ hai Quảng Nam, và dòng pháp Thiền Tôn, Tổ đình thứ ba – Huế, tại Bình Định, và cũng là con cháu tám, chín đời dòng pháp Thập Tháp – Tổ đình thứ nhất, thuộc dòng pháp Thiên đồng Trung quốc tại Việt nam. Giờ này, tất cả chúng tôi đã vân tập đông đủ trước linh đài trang nghiêm, đau buồn này để làm lễ tiễn đưa kim quan Cố Đại lão Hòa thượng vào “BẢO THÁP MẬT TÀNG”, nghìn thu an nghỉ. Kính bạch Tân tịch Đại lão Hòa thượng giác linh! Trước hết, tại nơi đây, tất cả chúng tôi: Chí thành đến trước linh tòa, Cung kính dâng lên pháp cúng Kinh diên tán tụng,
04/08/2012(Xem: 10340)
Hòa thượng Thích Duy Lực, pháp danh Duy Lực, pháp tự Giác Khai, nối pháp thiền phái Lâm Tế. Ngài thế danh La Dũ, sinh ngày 5 tháng 5 năm Quý Hợi 1923, nhằm Trung Hoa Dân quốc thứ 12, tại làng Long Yên, huyện Phong Thuận, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; thân phụ là cụ ông La Xương, thân mẫu là cụ bà Lưu Thị. Ngài sinh trưởng trong một gia đình chuyên nghề nông trang, quy kính Tam bảo. Năm Mậu Dần 1938, Ngài được 16 tuổi, vừa học xong tiểu học thì phải lên đường theo cha sang Việt Nam sinh sống. Khi mới sang, gia đình Ngài dừng chân ở Cần Thơ lập nghiệp; trong những lúc rỗi rảnh Ngài thường tranh thủ tự học thên Hoa văn và quốc ngữ Việt Nam.
20/07/2012(Xem: 12431)
Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (1685–1768) là vị Tổ trung hưng thiền Lâm Tế tại Nhật Bản. Xa rời phương thức đánh hét cùng các ngôn ngữ siêu tuyệt, Ngài cố công diễn tả Thiền bằng ngôn ngữ dễ hiểu để tầng lớp bình dân có thể hiểu được.
19/07/2012(Xem: 11244)
Qua hàng ngàn năm Lịch sử của Dân tộc, hơn 2000 năm có mặt trên đất nước, Phật giáo đã đóng góp cho Tổ quốc một thời gian dài trên dưới 400 năm an bình thịnh vượng, chưa nói đến những thời đại riêng lẻ ngắn ngủi.
03/07/2012(Xem: 15191)
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ (17-10-1917), tại làng Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng) huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp).