Mạng Đế Vương

10/03/201610:09(Xem: 12595)
Mạng Đế Vương



MẠNG ĐẾ VƯƠNG

 

Là người cùng dòng họ với Hòa thượng Phương trượng Pháp Hoa, từ nhỏ tôi được nghe kể nhiều những chuyện ngày xưa của Ông Bà, Thầy Tổ mình để lại, trong đó có Hòa Thượng. Nay nhân dịp được đóng góp bài vở cho kỷ yếu, Viên Trí xin ghi lại vài ký ức còn sót lại từ thời thơ ấu.

 

Khi còn hành điệu tại Tổ đình Chúc Thánh, cách đây cũng gần 30 năm, khi đó Hòa thượng Bổn Sư của tôi là HT Thích Trí Nhãn còn sanh tiền (tức Đại Sư huynh của HT Thích Như Huệ), Ngài thường hay nói : "Thầy Như Huệ có mạng đế vương, lúc nào, ở đâu, Thầy cũng luôn là người lãnh đạo Giáo Hội". Hồi đó tôi chỉ nghe như một đứa trẻ ngây ngô vậy thôi. Nhưng khi lớn lên mình mới thấy cái tình, và có một chút tự hào của vị Đại Sư huynh dành cho người Sư đệ.

 

Hòa thượng sanh năm 1933, trong một gia đình ảnh hưởng rất nặng Nho giáo, và sùng kính Tam Bảo. Thân phụ Hòa Thượng, Cụ ông Phạm Kim Cái, là một thầy thuốc Bắc nổi tiếng trong vùng (phường Cẩm Phô, Hội An) mà người trong xóm thường gọi là thầy Mười. Ông cụ có năm người con: Người con đầu Bà Phạm Thị Ty, kế đến Ông Phạm Kim Đồng, Phạm Kim Hiệp, Phạm Kim Tiền, và Hòa thượng là người con trai út, thứ sáu trong gia đình, Phạm Kim Lai. Trong các anh chị em thì có chị Hai, Phạm Thị Ty mất sớm. Nghe ông Nội (Ông Phạm Kim Hiệp) kể lại Bà Phạm Thị Ty tuy còn trẻ tuổi nhưng đã thành thạo nghề chẩn mạch bốc thuốc cho bịnh nhân. Riêng Hòa Thượng là người nhỏ tuổi nhất, nên được Thân phụ giao cho các anh Đồng, Hiệp dạy chữ Nho từ các sách Tam Tự Kinh, Ngũ Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Minh Tâm Bửu Giám. Lúc bấy giờ chỉ học theo từng chữ một, như: Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn..... Theo lời Hòa thượng kể: Cũng nhờ học những chữ Nho đơn sơ về ngữ nghĩa như vậy mà sau này Hòa thượng đã có cơ hội học nhanh hơn những bài kinh, luật của Phật khi đã xuất gia tu học.

 

Được nhân duyên gia đình ở cạnh chùa Viên Giác, Thân phụ thường hay qua lại trông nom chùa. Chùa Viên Giác khi đó chỉ là ngôi chùa làng, chưa có Thầy Trụ Trì, nên làng giao cho gia đình điều hành mọi Phật sự. Tất cả gia đình lớn nhỏ đều ra quy y với Hòa thượng Tăng Cang Thích Thiện Quả, tại Tổ Đình Chúc Thánh. Do những túc duyên đó, nên mới 8 tuổi Hòa thượng đã xin ra ở tập sự tại Chúc Thánh. Lên 11 tuổi thì Mẹ của Ngài mất sau một cơn bịnh. Nhìn thấy cảnh ân ái chia lìa đau khổ, vô thường giả tạm, nên đã thôi thúc ý thức một chú bé mới 11 tuổi hướng đến con đường xuất gia tu học càng mạnh hơn. Sau thời gian tập sự, lúc 12 tuổi, Hòa thượng đã được Thầy Bổn Sư chính thức cho xuống tóc, làm chúng xuất gia thường trụ trong Tổ đình. Khi vào Tổ đình xuất gia, Ngài cũng là một đệ tử gần như nhỏ nhất trong các vị đệ tử của Bổn Sư, nên Bổn Sư chọn Ngài làm thị giả. Nhờ được làm thị giả, sớm chiều thân cận qua thân giáo, ý giáo, khẩu giáo của Bổn Sư, đã ảnh hưởng đến tâm hồn trẻ của chú điệu Như Huệ lúc bấy giờ, vì thế mà Ngài trở nên rất hoàn chỉnh về oai nghi tế hạnh của người xuất gia.

 

Khi trưởng thành, Hòa thượng được Bổn Sư cho ra Huế học, sau đó thì được HT Trí Hữu từ Sài Gòn về giới thiệu vào học tại Phật học đường Ấn Quang. Cũng xin kể thêm rằng, khi đó Hòa thượng đi vào Sài Gòn bằng tàu thủy, khoảng cách một ngàn cây số, chắc cũng phải mất gần một tuần lễ mới đến nơi.  Hòa thượng theo học với các vị Cao Tăng lừng danh như HT Thiện Hoa, HT Thiện Hòa, Thiền Sư Nhất Hạnh, giáo sư Cao Hữu Đính....Học cùng lớp với Ngài lúc đó các vị như HT Thanh Từ, HT Huyền Vi, HT Tịnh Hạnh.... Sẵn có căn tánh bẩm sinh, và tu học rất tinh tấn, nên sau khi ra trường, Hòa thượng đã được HT Thích Trí Quang, HT Thích Thiện Minh cử đi hoằng Pháp khắp nơi từ miền Trung đến Miền Nam, từ thôn quê đến thành thị. Nhờ có giọng nói thanh cao, rõ ràng của giọng Quảng Nam mạnh mẽ cùng pha trộn một chút miền Nam mềm mại, nên Hòa thượng đã phương tiện diễn bày Phật Pháp rất thu hút người nghe. Nhất là thời kỳ chiến tranh, Phật giáo bị đàn áp, kỳ thị, nên những buổi diễn thuyết cho quần chúng hiểu được Phật Pháp, hiểu được sự công bằng tôn giáo, tín ngưỡng để bảo vệ Chánh pháp là rất quan trọng. Sau khi được thuyên chuyển công tác Phật sự từ Kon Tum về Quảng Nam để đảm nhận những chức vụ quan trọng trong Phật giáo tỉnh nhà (xin đọc tiểu sử), Hòa thượng cùng với các vị HT Như Vạn, HT Long Trí, HT Chơn Phát hợp lực với nhau sinh hoạt Phật sự một cách rất thành công và hợp ý nhau. Cũng theo lời Hòa thượng kể: Đi cúng, đi thuyết Pháp, đi đưa đón các bậc Tôn Túc từ xa đến thăm, đi cứu trợ... đều có bốn anh em đi cùng. Cho nên lúc bấy giờ mọi người thường đặt cho cái tên của 4 vị này là "Quảng Nam Tứ Trụ" tức là như bốn cây trụ cột để chống đỡ ngôi nhà Giáo Hội. Quảng Nam là một tỉnh có nhiều huyện ở những vùng núi xa xôi như Tý, Xé, Dùi Chiên, Đèo Le, Thạch Bích... là những thôn huyện ngăn sông cách đò nhất. Vào những mùa Đông, giá lạnh, có lúc Phật sự cần phải đi, "Tứ Trụ" này đạp xe đạp suốt cả 2 ngày trời mới đến. Trong Bốn vị chỉ có HT Chơn Phát là không biết đi đạp xe, nhưng Ngài lại là người to lớn, nặng nhất trong nhóm, cho nên ba anh em kia phải thay phiên nhau đèo Ngài ngồi phía sau. Có những chuyến đi trong thời tiết quá khắc nghiệt, khi đến nơi cả bốn anh em đều bị bịnh và mệt, nhờ Phật tử cạo gió xong rồi về, mệt quá không thuyết giảng được gì cả.

 

Trong "Tứ Trụ" thì HT Thích Như Vạn là người Pháp hữu có nhiều kỷ niệm nhất với HT Thích Như Huệ. HT Như Vạn xuất gia trễ hơn HT Như Huệ, nhưng tuổi lớn hơn, nên HT Như Huệ cũng xem như là Sư huynh. Huynh đệ có sự nhường nhịn và giúp đỡ với nhau như hai cánh tay trên một cơ thể, người này ngã, người kia nâng đỡ. Nhưng không may, sau năm 1975, HT Như Vạn vì một biến cố qua đời, nên HT Như Huệ thật vô cùng buồn bã, mất mát. Quý Thầy lúc đó kể là HT Như Huệ khóc HT Như Vạn như là người con mất mẹ, như Ngài A Nan khóc khi Phật Niết Bàn. Phần thì vận nước biến chuyển, phần thì Huynh đệ cách biệt, chia lìa, nên Hòa thượng đã rời bỏ miền Trung với biết bao kỷ niệm thân thương của một thời thơ ấu, rồi đến một thời hào hùng lãnh đạo và tranh đấu cho sự sống còn của Phật giáo, Ngài vào miền Nam một thời gian mà nỗi ray rứt trong lòng cũng không nguôi, rồi Ngài lại theo những dòng người ra đi vượt biên, và cuối cùng Ngài định cư tại Nam Úc.


"Quảng Nam Tứ Trụ" tức là như bốn cây trụ cột để chống đỡ ngôi nhà Giáo Hội.

HT Thich Nhu Van
1/ HT Thích Như Vạn, Phó Đại Diện, kiêm Đặc Ủy Cư sĩ GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam,

Trụ Trì Tổ đình Phước Lâm, Thầy Bổn Sư của cố HT Thích Hạnh Tuấn (Trụ Trì Chùa Trúc Lâm, Chicago, Hoa Kỳ)

HT Thich Long Tri
2/ HT Thích Long Trí, Nguyên Phó Nội Vụ, kiêm Đặc Ủy Thanh Niên Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Quảng Nam,

Trụ Trì chùa Viên Giác, Quảng Nam, đệ tử của Ngài có HT Thích Tâm Thanh (một Giảng sư nổi tiếng) và HT Thích Như Điển (Phương trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, là Đệ Nhị Chủ Tịch HĐĐH GHPGVNTN Âu Châu hiện nay).

HT Thich Chon Phat
3/ HT Thích Chân Phát, Nguyên Đặc Ủy Tăng Sự GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam, Trụ Trì chùa Long Tuyền,

(một thắng cảnh của Phố cổ Hội An) và là Giám đốc một Phật Học Viện đầu tiên của Quảng Nam trước 1975.

HT Thich Nhu Hue
4/ HT Thích Như Huệ, lãnh đạo PG Úc Châu trong 35 năm qua (xem bài viết khác)

Ngài từng là Chánh Đại Diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam, Giám Đốc Trường Bồ Đề Hội An

và xây dựng thành công nhiều công trình cho Phật giáo tỉnh nhà.


Su ong Nhu Hue-Thay Vien TriSu ong Nhu Hue-Thay Vien Tri-2

Su ong Nhu Hue-Thay Vien Tri-3
Tác giả Thích Viên Trí & Sư Ông Như Huệ



Hòa thượng thường hay kể, khi ra đi trên chiếc thuyền mỏng manh, lênh đênh nhiều ngày trên biển, Ngài có ba nguyện ước nếu được đi đến bất cứ nơi nào thì: Một là sẽ xây dựng một đạo tràng cho Phật tử tu học, hai là xây dựng một tượng đài Quán Âm lộ thiên, ba là chiêm bái những thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ. Những ước nguyện đó đối với hôm nay thì chắc không có gì khó, nhưng trong lúc khó khăn thời đó, thức ăn không có, tương lai mờ mịt, cái sống và chết gần kề thì bất cứ một ước nguyện gì cũng có giá trị và cao cả. Thật vậy, khi qua Úc, không những Ngài đã hoàn thành những ước nguyện năm xưa, mà Ngài còn cùng chung sức với chư Tôn Đức tại Úc Châu xây dựng Giáo Hội. Ngài đã từng là Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp, sau đó Ngài làm Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan trong suốt một chặng đường dài 4 nhiệm kỳ - 16 năm. Nhờ vào đức độ và kinh nghiệm, Hòa thượng đã tạo cho Phật Giáo Việt Nam tại Úc Châu ngày càng lớn mạnh, Tăng, Ni hòa hợp.

Nếu quý vị đọc tiểu sử của Ngài sẽ thấy một cuộc đời, một hành trạng thật nhiều thăng trầm với bao phong sương tuế nguyệt, nhưng vẫn vươn lên và thành công với bản lãnh tài ba, đức độ của mình. Đúng như lời Sư phụ của mình đã từng nói "Thầy Như Huệ có mạng đế vương" thật là không sai.

 

Viết tại Chùa Pháp Hoa, Nam Úc, 1/3/2016

Thích Viên Trí (Hạnh Thiện)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/05/2021(Xem: 5793)
Đệ Tử chúng con, hàng hậu học Tỳ Kheo Thích Minh Thế- Huế thuộc Môn Phong Tổ Đình Từ Hiếu, được nhân duyên diện kiến Ngài 3 lần, một lần Chùa Bát Nhã, Lúc ở Chùa Hải Quang, trong mùa Huý Kỵ Ngài Nhật Lệ. Năm 2007-2008,2009,2010. Hay tại Chùa Quảng Hương Già Lam, nhân Huý kỵ Tôn Sư Thượng Trí Hạ Thủ- 2012-2014, tất cả đều ở Sài Gòn. Diện kiến Ngài là một lần học được tâm hạnh Khiêm cung, luôn lấy pháp Mật chú mà gia trì. Lấy giới luật mà dụng tu, lấy công phu trì niệm Pháp Hoa, Sám Lễ, Trì Chú Niệm Phật A Di Đà, để Huân nhiên chủng tánh. Diện kiến Ngài lúc nào cũng có chiếc gậy bên mình, vì đôi chân có phần chưa tốt, nên từ đó Diện kiến Ngài là đều hi hữu. Ngài từng dạy tại Trường Bồ Đề, nơi trú xứ Buôn Ma Thuột, giữ những lời dạy sâu sắc, tiếp nối truyền thừa lưu lại đàn hậu tấn về sau, các vị được thọ ân từ Ngài, giờ này cũng chấp cánh bay xa bên xứ ngoài, hay trong xứ, làm niềm vui an tịnh cho chính mình ở Bồ đề Tại xứ Buôn Mê. Ngài từng ngồi hành pháp
25/05/2021(Xem: 13429)
Đã nhiều năm rồi, Phật Tử Việt Nam cử hành đại lễ trong niềm hân hoan tự hào về một ngày lễ Vesak trọng đại được xưng danh một cách trang trọng là "Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc." Phật giáo là một trong bốn tôn giáo lớn của nhân loại. Con số Phật Tử dù vậy cũng chỉ khoảng 400-600 triệu. Với con số khiêm nhường đó, tiếng nói của Phật giáo không có ảnh hưởng gì đáng kể trong các quyết định của Liên Hiệp Quốc về vận mạng của các dân tộc trên thế giới. Phật Tử Việt Nam chính thức đón nhận "Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc" từ năm 2008. Từ đó đến nay, những phát biểu bởi các đại biểu từ nhiều nước tán dương Đức Phật quả là quá nhiều, nhưng chưa có bất cứ đóng góp thiết thực đáng kể nào cho khát vọng hòa bình của nhiều dân tộc bị áp bức, bóc lột bởi chính quyền của nước mình; bị đe dọa bởi tham vọng bá quyền của nước lớn.
22/05/2021(Xem: 10212)
Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch thế danh Nguyễn Thanh Bình, sinh năm Tân Mùi (1931) tại thôn Mỹ Duyệt Hạ, xã Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Như Hưng, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Huấn, Trưởng lão Hòa thượng là con thứ hai trong bốn anh em (hai trai hai gái). Lúc lên 11 tuổi (1942), được sự cho phép của song thân, Hòa thượng đến chùa Đặng Lộc đảnh lễ ngài Hòa thượng Thích Định Tuệ xin được xuất gia và được bổn sư ban cho pháp danh Lệ Chân, pháp tự Thiện Hạnh.
16/05/2021(Xem: 18770)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
30/04/2021(Xem: 13313)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
23/04/2021(Xem: 7288)
Hoà thượng Thích Từ Hương thế danh là Nguyễn Mạnh Trừng. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1928 tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.Trong một gia đình phú nông. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Tiêm. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chai pháp danh Nhật Cang. Từ lúc ra đời cho đến năm 1954, Hoà thượng ở tại quê nhà theo học tiểu học và sinh sống tại địa phương.
23/04/2021(Xem: 7081)
Hòa thượng Đạo hiệu Thích Thiện Duyên, thế danh Võ Đình Như, sinh ngày 20/10/1926 tại thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài là con thứ 3 trong gia đình. Thân phụ và thân mẫu của Hòa thượng là cụ ông Võ Toản pháp danh Nhựt Toàn và cụ Bà Đặng Thị Chức pháp danh Diệu Phát. Gia đình Ngài có truyền thống Phật giáo thuần thành. Với túc duyên nhiều đời, từ nhỏ, Ngài thường được bà nội dẫn đến chùa làng tụng kinh niệm Phật. Gặp lúc Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm – Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định, Ngài sớm thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
11/04/2021(Xem: 12550)
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, Kính thưa tất cả quý Phật tử trong và ngoài nước, Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng xin trân trọng kính báo: Thượng Toạ Thích Tuệ Giác, Hội trưởng Hội Thiền Học Việt Nam Hải Ngoại, Viện trưởng Tổ Đình Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Đã viên tịch vào lúc 4:30 chiều Thứ Bảy ngày 10 tháng 4 năm 2021 (nhằm 29 tháng 2 năm Tân Sửu) Tại Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Quận hạt San Diego, CA, Hoa Kỳ. Trụ thế 62 năm, 31 Hạ Lạp Chương trình Tang Lễ của Thượng toạ Thích Tuệ Giác sẽ được kính báo trong thời gian sớm nhất. Chúng con nhất tâm xin cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và mời gọi quý Phật tử cùng chung lòng cầu nguyện. Thay mặt BTC Tang Lễ xin được trân trọng kính báo. Tỳ kheo Thích Tuệ Tỉnh
31/03/2021(Xem: 7893)
Trễ hẹn trong tang lễ, rồi cúng 21 ngày và 49 ngày cố nhạc sĩ Hằng Vang ( 1936 – 2021 ), một số Anh Chị em cựu huynh trưởng giữ đúng lời hứa, rất uy tín, lòng tự dăn lòng rằng nhất định sẽ họp mặt để cùng nhau thắp cho vị nhạc sĩ nén hương tưởng nhớ, tri ân những dòng nhạc mà phần lớn đã theo chân nhiều thế hệ Gia Đình Phật Tử ( GĐPT ) và các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, nối tiếp nhau cho đến tận hôm nay. Và ngày đó phải là ngày cúng chung thất 49 ngày, nhất định không hẹn xa xăm nửa. Sau khi loại trừ nhiều trở ngại, cộng vào nh74ng thuận duyên chung, tất cả đã chọn ngày chủ nhật 21/03/2021 9 nhằm ngày mùng 9 tháng hai năm Tân Sửu vừa rồi
10/03/2021(Xem: 7969)
Cố Hòa Thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh; nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán. Ngài lâm thế ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận III (nay là phường An Hải, quận Sơn Trà), thành phố Đà Nẵng; chánh quán làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Ngài là trưởng nam trong một gia đình có năm anh em gồm ba trai và hai gái. Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tần tảo nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được mẫu thân gởi đến Thầy Tư Tri (Như Tín) – trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ – nhận cho nhập Chúng tu học.