Thầy ơi !

08/12/201519:50(Xem: 10347)
Thầy ơi !

Bài tưởng niệm của đoàn Thiếu Nữ - GĐPT Trúc Lâm


Thầy ơi !

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chúng Con kính bạch Quý Chư Tôn Đức Tăng, Ni,

Chúng con kính đảnh lễ trước Giác Linh Thầy kính yêu,

Thầy ơi! Không thể nào diễn tả nỗi đau và sự mất mát quá lớn mà chúng con đang trải qua. Chúng con vẫn không tin sự thật rằng Thầy đã thật sự xa chúng con mãi mãi. Thay mặt cho các em đoàn Thiếu Nữ, chúng con xin đảnh lễ và thương kính gởi lòng tri ân sâu sắc đến vị Thầy khả kính, một vị Ân Sư trong đời.

Tình thương yêu của Thầy dành cho chúng con là điều mà tất cả đoàn sinh chúng con đều cảm nhận được. Đến bây giờ chúng con luôn ý thức được trang phục đoàn trong các buổi lễ, hay trang phục múa trên sân khấu là phải luôn đồng bộ trang nghiêm là do sự quan tâm và dạy dỗ từng chút một của Thầy. Vì thương chúng con rất nhiều, nên Thầy lúc nào cũng ngợi khen và lấy làm hãnh diện về Vũ khúc Quán Thế Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay và bài múa Dâng Hoa của chúng con, dẫu rằng chúng con vẫn còn rất nhiều vụng về, nhưng trong mắt của các bậc cha mẹ thì con cái của mình lúc nào cũng đẹp nhất và hay nhất phải không Thầy?

Chúng con rất thích được tháp tùng cùng Thầy về dự hội thảo hay Phật sự ở những nơi khác. Được làm đệ tử của Thầy Trúc Lâm thật là oai biết làm sao, bởi vì Thầy của chúng con thật là một vị Thầy tài đức. Được ở gần Thầy, chúng con cảm nhận được sự an ổn và che chở.

Nay Thầy đi rồi, trong những buổi góp vui văn nghệ cho Lễ, Tết, các em của chúng con sẽ chạnh lòng khi từ trên sân khấu nhìn xuống đã vắng đi bóng dáng và ánh mắt bao dung, khuyến khích của người Thầy thân yêu. Vắng bóng Thầy rồi, những khi đi tham dự khóa tu, hội thảo của GĐPT mà không có Thầy dìu dắt, chúng con sẽ buồn biết mấy Thầy ơi.

HT Hanh Tuan-phat tu truc lam 9Rồi đây mỗi khi về Tịnh Xá của chúng ta ở Dakota mà không có Thầy chắc chúng con sẽ ôm nhau mà khóc. Mà đợi chi đến lúc đó, mấy hôm nay nhìn thấy di ảnh của Thầy là chúng con không cầm được nước mắt. Chúng con sẽ nhớ mãi hình ảnh Thầy mỉm cười hạnh phúc khi thấy Tịnh xá từng bước hoàn tất, và nhất là mỗi khi Thầy thấy chúng con tề tựu về Tịnh xá đông đủ. Mấy hôm nay Quí Thầy về chùa Trúc Lâm thật là đông để lo cho Tang lễ của Thầy được chu tất, thỉnh thoảng một bóng áo nâu hay giọng nói ấm áp của một vị Thầy nào đó hao hao giống Thầy đều gợi nhớ đến một sự thật là Thầy đã ra đi mãi mãi. Chúng con đã cố không khóc mà nước mắt cứ rơi. Hiểu rõ qui luật vô thường, nhưng lòng chúng con đau xót biết bao.

Bây giờ chắc Thầy đang an lạc trên cõi Phật. Thầy của chúng con là một bậc Cao Tăng chân chính, trí dũng song toàn. Chúng con tin chắc rằng Thầy đã về nơi an lạc. Không biết nơi ấy có giống như những lúc Thầy kể về những hành tinh xa xôi, nơi mà một ngày dài bằng cả trăm năm so với cõi Ta Bà này. Thầy ơi, cõi nước ấy có thanh tịnh và an nhiên đến chừng nào Thầy cũng đừng quên chúng con ở nơi đây. Xin Thầy hãy vì lòng từ bi mà thương xót chúng con còn ngu muội nơi này. Chúng con nhớ và kính thương Thầy nhiều lắm. Một ngày trên kia là mấy kiếp nơi này, chúng con biết bao giờ mới tìm thấy lại Thầy đây? Dù thế nào đi nữa, những nhân duyên và những hạt giống đã gieo trồng, chúng con tin rằng một lúc nào đó Thầy trò ta lại hội ngộ cùng nhau, để chúng con có thề núp bóng từ quang của Thầy mà cùng Thầy hoàn thành Phật sự./.

Nam Mô A Di Đà Phật,

Đệ tử chúng con,

Đoàn Thiếu N - GĐPT Trúc Lâm

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/06/2012(Xem: 18003)
Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn, thế danh Trương Xuân Bình, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1933 (Quý Dậu) tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, là con thứ sáu trong một gia đình mười hai anh chị em. Thân sinh của Cố Trưởng Lão Hoà Thượng là cụ Trương Xuân Quảng, mất năm 1945, nguyên quán làng Kim Thành, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, làm quan dưới thời Pháp thuộc, được bổ nhậm chức Kiểm Học (tương đương với Trưởng Ty Nha Học Chánh dưới thời các chính phủ quốc gia sau này) tỉnh Bình Thuận năm 1933 – 1939, và Đốc Học tỉnh Quảng Ngãi năm 1940 – 1945. Nhờ túc duyên với Phật Pháp, nên đến năm 1950, Cố Trưởng Lão Hoà Thượng đến Chù
06/06/2012(Xem: 17718)
Hòa thượng Thích Quảng Đức, Pháp danh Thị Thủy, Pháp tự Hành Pháp và thế danh là Lâm văn Tức, sinh năm 1897 tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa...
30/05/2012(Xem: 10583)
Tín Nghĩa tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979, do nhị vị Hòa thượng Thích Thiên Ân và Hòa thượng Thích Mãn Giác bảo lãnh từ trại tỵ nạn Hongkong. Ngồi tính sổ thời gian thì cũng đã gỡ gần ba chục cuốn lịch. Giá như thời gian này mà ở trong tù thì cũng mục xương và chẳng bao giờ được thấy ánh sáng của thiên nhiên.
27/05/2012(Xem: 24610)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
15/05/2012(Xem: 8908)
Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn– thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký.
09/05/2012(Xem: 12020)
Sự xuất hiện của Tổ sư Liễu Quán (1667-1742) như là một Bồ tát bổ xứ, thực hiện sứ mệnh lịch sử: Không chỉ duy trì và phát triển mạch sống Phật giáo Việt Nam giữa bối cảnh xã hội tối tăm, Phật pháp suy đồi mà còn thể hiện sự xả thân vì đạo; lập thảo am, ăn rong, uống nước suối, hơn mười năm tham cứu công án, tu hành đắc đạo.
28/04/2012(Xem: 8997)
Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, còn có bút hiệu Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. - Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa( 1961 ), Đại Học Luật Khoa Saigon. - Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Saigon. Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây: - Lục sự tại Toà Án Saigon và Long An (1960 – 1962). - Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964). - Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965). - Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 - 1966). - Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà Án Long An (1969 – 1971). - Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1
26/04/2012(Xem: 23986)
Mùa Phật Đản 1963, có máu, lửa, nước mắt và xương thịt của vô số người con Phật ngã xuống. Nhưng từ trong đó lại bùng lên ngọn lửa Bi Hùng Lực của Bồ Tát Thích Quảng Đức
20/04/2012(Xem: 12856)
Hòa thượng Thích Thiên Ân, thế danh Đoàn Văn An, sinh ngày 22 tháng 9 năm Ất Sửu 1925, tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ của Ngài là Đoàn Mễ, sau xuất gia là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu một bậc tử đạo Vị pháp thiêu thân, thân mẫu là một tín nữ chuyên lo công quả ở chùa Báo Quốc và tu viện Quảng Hương Già Lam, Ngài là con trai thứ trong một gia đình có 4 anh em. Ngài xuất thân trong một gia đình thế gia vọng tộc, có truyền thống kính tin Phật pháp lâu đời. Nhờ duyên gần gũi Tam bảo từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm mến cảnh thiền môn với tiếng kệ câu kinh, nên năm lên 10 tuổi (1935), Ngài theo bước phụ thân xin xuất gia đầu Phật tại chùa Báo Quốc, làm đệ tử của Hòa thượng Phước Hậu, được Bổn sư ban pháp danh là Thiên Ân, Ngài tinh tấn chấp tác, học tập thiền môn qui tắc, hầu cận sư trưởng. Năm Tân Tỵ 1941, khi được 16 tuổi, Ngài được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại giới đàn chùa Quốc Ân – Huế, do Hòa thượng Đắc Quang làm Đường đầu truyền giới.
08/04/2012(Xem: 8320)
Hòa thượng thế danh Đoàn Thảo, sinh ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 trong một gia đình nhiều đời theo Phật tại xứ Đồng Nà, tổng Phú Triêm Hạ, xã Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ ông Đoàn Văn Nhơn pháp danh Chơn Quang, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Có. Gia đình Ngài gần chùa Vạn Đức, lại thêm cụ thân sinh là tín đồ thuần thành của chùa, nên từ thuở nhỏ, Ngài thường theo cha đến chùa hàng đêm tụng kinh niệm Phật. Từ đó, chủng tử Bồ Đề lớn dần trong tâm và Ngài tỏ ra những biểu hiện rất có căn duyên với cửa Không môn của nhà Phật.