Điếu Văn Tưởng Niệm

08/09/201507:57(Xem: 6787)
Điếu Văn Tưởng Niệm



Điếu Văn

Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Viên Diệu


                 Của Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN Canada

                        Do Thượng Tọa Thích Nguyên Lạc

                        Chủ Tịch Ủy Ban Giám Sát Giáo Hội đọc trong lễ truy niệm

           

            Nam Mô Tây Phương Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

            Kính bạch giác linh Hòa Thượng

            Trước linh đài trang nghiêm, trầm hương tỏa ngát, đượm tình Linh sơn cốt nhục, pháp phái tông môn.

            Trong khoảnh khắc thiên thu vĩnh biệt, trước khi môn đồ pháp quyến cử hành nghi lễ phát hành, cung tống kim quan Hòa Thượng quay về Thiên thai đất tổ.

            Chúng tôi mạn phép thay mặt chư tôn Giáo phẩm, Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại Canada xin có đôi lời tiển biệt.

            Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

            Giác tánh viên minh vốn an nhiên thường tịch, không có "giả tướng ngã nhân", không có "giả danh sinh tử", chỉ vì một niệm sai thù mà muôn vàn vọng tưởng dấy lên, mới có hiện tượng khứ lai sinh diệt. Tuy nhiên, với người xuất gia thì sinh nhi bất sinh, diệt nhi bất diệt.

            Sáu mươi hai năm trước đây, Hòa Thượng đã chào đời trên mảnh đất Phú Lễ bên dòng sông Bồ lặng lẽ của xứ Thần Kinh, vốn có túc duyên với cửa Phật, nên từ thuở ấu thơ, được sự hướng dẫn của song thân, đêm đêm lên chùa tụng kinh, lễ Phật, nhờ đó mà hạt giống Bồ đề, ngày đêm được vun bồi, rồi duyên lành đã đến, cát ái từ thân, không môn nhập đạo, quyết chí tu hành, dù gian nan, khổ ải, chướng duyên thử thách, nhưng với chí nguyện kiên cường Hòa Thượng đã vượt qua tất cả.

            " Chốn củ dặm dài man mác, bởi phế hưng xô dậy sóng cồn, chiếc lá thuyền nan, vá áo chép kinh đất khách".

            Những tưởng tháng ngày thiền môn đạm bạc, cơm hẩm muối dưa, đất tổ Thiên Thai, nuôi dưỡng đạo lớn.

            Nào ngờ vận nước đổi thay, Người theo con thuyền lênh đênh sóng nước, vượt đại dương tìm bến tự do, cho đạo mầu tỏa rạng.

            Chọn xứ tuyết để hoằng pháp lợi sinh, báo Phật ân đức,

            Ba mươi năm nổ lực không ngừng, hoài bảo thêng thang.    Nhưng than ôi! Nguyện ước thì nhiều mà sức người hữu hạn. Dù thân mang trọng bệnh, Ngài vẫn âm thầm chịu đựng, phụng sự Phật Pháp cho đến giây phút cuối đời.     

            Quảy dép về tây chốn nghỉ ngơi

            Hạc vàng cất cánh hướng chân trời

            Dung nhan đã khuất nơi trần thế

            Kẽ ở người đi luống ngậm ngùi..

Vẫn biết rằng: Vô thường thị thường

            Nhưng sự ra đi của Hòa Thượng là mất mát lớn lao cho Giáo hội, để lại bao niềm thương tiếc trong lòng của chúng tôi, những đồng môn pháp lữ đã từng chung vai góp sức trong mọi Phật sự cùng Hòa Thượng suốt gần 30 năm qua, môn đồ tứ chúng từ đây vĩnh viển mất đi một nơi nương tựa thân thiết. Nhưng biết làm sao hơn khi duyên trần đã mãn.

            Mặc dù Hòa Thượng ra đi, nhưng những đóng góp của Hòa Thượng hơn 30 năm qua cho sự nghiệp xây dựng Đạo Pháp và Giáo hội nơi đây vẫn còn đó. công đức của Hòa Thượng với quê hương và Tổ đình vẫn còn đây.

            Trong giây phút tiễn biệt này, toàn thể Tăng Ni chúng tôi và đồng hương Phật tử xa gần, tất dạ chí thành, đốt nén tâm hương cúng dường tiễn biệt, nguyện cầu giác linh Hòa Thượng cao đăng Phật quốc, xin gia hộ cho chúng tôi đầy đủ nghị lực để tiếp tục hạnh nguyện dân thân vì đạo pháp, quê hương và giáo hội.

            Ngưỡng mong Hòa Thượng bất vong nguyện lực, sớm hội nhập Ta Bà để tiếp tục hạnh nguyện hóa độ húng sanh

            Nam Mô Tân viên tịch, Lâm Tế tông, Liễu Quán pháp phái, đệ thập thế, khai sáng Thuyền Tôn hải ngoại tự, Viện chủ húy Nguyên An, tự Viên Diệu, hiệu Huyền Đức hòa thượng giác linh thùy từ chứng giám.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/12/2010(Xem: 10870)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 37809)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 15287)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn
15/11/2010(Xem: 10686)
Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa.
10/11/2010(Xem: 11396)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
02/11/2010(Xem: 10771)
Thành kính khẩn bạch đến chư Tôn Đức Tăng Già của quý Giáo Hội, quý Tự Viện, quý tổ chức Phật Giáo cùng toàn thể chư vị thiện nam tín nữ Phật tử: Đại Lão Hòa Thượng thượng Huyền, hạ Ấn, thế danh Hoàng Không Uẩn, sinh năm 1928 tại Quảng Bình, Việt Nam
01/11/2010(Xem: 17129)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 48843)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10137)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).