Điếu Văn Tưởng Niệm

08/09/201507:57(Xem: 6649)
Điếu Văn Tưởng Niệm



Điếu Văn

Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Viên Diệu


                 Của Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN Canada

                        Do Thượng Tọa Thích Nguyên Lạc

                        Chủ Tịch Ủy Ban Giám Sát Giáo Hội đọc trong lễ truy niệm

           

            Nam Mô Tây Phương Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

            Kính bạch giác linh Hòa Thượng

            Trước linh đài trang nghiêm, trầm hương tỏa ngát, đượm tình Linh sơn cốt nhục, pháp phái tông môn.

            Trong khoảnh khắc thiên thu vĩnh biệt, trước khi môn đồ pháp quyến cử hành nghi lễ phát hành, cung tống kim quan Hòa Thượng quay về Thiên thai đất tổ.

            Chúng tôi mạn phép thay mặt chư tôn Giáo phẩm, Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Hải Ngoại Canada xin có đôi lời tiển biệt.

            Kính bạch giác linh Hòa Thượng,

            Giác tánh viên minh vốn an nhiên thường tịch, không có "giả tướng ngã nhân", không có "giả danh sinh tử", chỉ vì một niệm sai thù mà muôn vàn vọng tưởng dấy lên, mới có hiện tượng khứ lai sinh diệt. Tuy nhiên, với người xuất gia thì sinh nhi bất sinh, diệt nhi bất diệt.

            Sáu mươi hai năm trước đây, Hòa Thượng đã chào đời trên mảnh đất Phú Lễ bên dòng sông Bồ lặng lẽ của xứ Thần Kinh, vốn có túc duyên với cửa Phật, nên từ thuở ấu thơ, được sự hướng dẫn của song thân, đêm đêm lên chùa tụng kinh, lễ Phật, nhờ đó mà hạt giống Bồ đề, ngày đêm được vun bồi, rồi duyên lành đã đến, cát ái từ thân, không môn nhập đạo, quyết chí tu hành, dù gian nan, khổ ải, chướng duyên thử thách, nhưng với chí nguyện kiên cường Hòa Thượng đã vượt qua tất cả.

            " Chốn củ dặm dài man mác, bởi phế hưng xô dậy sóng cồn, chiếc lá thuyền nan, vá áo chép kinh đất khách".

            Những tưởng tháng ngày thiền môn đạm bạc, cơm hẩm muối dưa, đất tổ Thiên Thai, nuôi dưỡng đạo lớn.

            Nào ngờ vận nước đổi thay, Người theo con thuyền lênh đênh sóng nước, vượt đại dương tìm bến tự do, cho đạo mầu tỏa rạng.

            Chọn xứ tuyết để hoằng pháp lợi sinh, báo Phật ân đức,

            Ba mươi năm nổ lực không ngừng, hoài bảo thêng thang.    Nhưng than ôi! Nguyện ước thì nhiều mà sức người hữu hạn. Dù thân mang trọng bệnh, Ngài vẫn âm thầm chịu đựng, phụng sự Phật Pháp cho đến giây phút cuối đời.     

            Quảy dép về tây chốn nghỉ ngơi

            Hạc vàng cất cánh hướng chân trời

            Dung nhan đã khuất nơi trần thế

            Kẽ ở người đi luống ngậm ngùi..

Vẫn biết rằng: Vô thường thị thường

            Nhưng sự ra đi của Hòa Thượng là mất mát lớn lao cho Giáo hội, để lại bao niềm thương tiếc trong lòng của chúng tôi, những đồng môn pháp lữ đã từng chung vai góp sức trong mọi Phật sự cùng Hòa Thượng suốt gần 30 năm qua, môn đồ tứ chúng từ đây vĩnh viển mất đi một nơi nương tựa thân thiết. Nhưng biết làm sao hơn khi duyên trần đã mãn.

            Mặc dù Hòa Thượng ra đi, nhưng những đóng góp của Hòa Thượng hơn 30 năm qua cho sự nghiệp xây dựng Đạo Pháp và Giáo hội nơi đây vẫn còn đó. công đức của Hòa Thượng với quê hương và Tổ đình vẫn còn đây.

            Trong giây phút tiễn biệt này, toàn thể Tăng Ni chúng tôi và đồng hương Phật tử xa gần, tất dạ chí thành, đốt nén tâm hương cúng dường tiễn biệt, nguyện cầu giác linh Hòa Thượng cao đăng Phật quốc, xin gia hộ cho chúng tôi đầy đủ nghị lực để tiếp tục hạnh nguyện dân thân vì đạo pháp, quê hương và giáo hội.

            Ngưỡng mong Hòa Thượng bất vong nguyện lực, sớm hội nhập Ta Bà để tiếp tục hạnh nguyện hóa độ húng sanh

            Nam Mô Tân viên tịch, Lâm Tế tông, Liễu Quán pháp phái, đệ thập thế, khai sáng Thuyền Tôn hải ngoại tự, Viện chủ húy Nguyên An, tự Viên Diệu, hiệu Huyền Đức hòa thượng giác linh thùy từ chứng giám.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10205)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9121)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10608)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9089)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8563)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8835)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9808)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 9873)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12777)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8248)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.