Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Viên Diệu (1954-2015)

29/08/201507:13(Xem: 8521)
Tiểu Sử Hòa Thượng Thích Viên Diệu (1954-2015)

HT Thich Vien Dieu

Tiểu Sử
Hòa Thượng Thích Viên Diệu


        Hòa thượng thế danh Trần Bá Không, sinh ngày 28 tháng 8 năm Giáp ngọ (1954) tại làng Phú Lễ, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên –Huế. Song thân là cụ ông Trần Bá Thuyết pháp danh Nguyên Đắc và cụ bà Trương Thị Đị pháp danh Nguyên Lâm. Ngài là con trai út trong gia đình có 8 anh em, gồm 7 trai 1 gái. Gia đình Hòa thượng có truyền thống nhiều đời thâm tín và phụng sự Tam Bảo, nên từ nhỏ Hòa thượng có cơ duyên được gặp Phật pháp, ươm mầm hạt giống Bồ Đề.

Từ khi còn là một chú bé, hằng đêm được cha mẹ dẫn đến chùa lễ Phật tụng kinh, nhờ đó mà hạt giống Phật trong Ngài ngày càng chớm nở. Năm Ất Tỵ (1965), một hôm gia đình Hòa Thượng có đám giỗ, được sự quan lâm chứng minh của cố Hòa Thượng Thích Thiện Chí, trú trì chùa Quang Bảo gần nhà Ngài. Vì từ thuở nhỏ Hòa Thượng đã thích gần gủi với các vị xuất gia và đặc biệt là rất thích cái đãy xách y của các vị này, nên Ngài luôn lân la với đãy xách y của cố Hòa Thượng và muốn được mang nó. Thấy chú bé thích thú như vậy, cố Hòa Thượng Thích Thiện Chí liền hỏi rằng: “con có muốn đi tu không?”, chú bé liền hỏi lại rằng: “ đi tu là làm chi ạ?”. Hòa thượng chỉ trả lời đơn giản: “đi tu là hằng ngày được mang đãy xách y này”. Nghe vậy, không ngần ngại chú bé trả lời là: “dạ thích ạ”. Từ đó, chú bé Trần Bá Không theo chân cố Hòa thượng Thích Thiện Chí vào chùa xin được xuất gia, để chỏm làm chú tiểu. Dù bao lần cha mẹ của Hòa Thượng đến chùa khuyên bảo trở về nhà nhưng Hòa Thượng đều từ chối không chịu về. Tuy rất thương con, nhưng song thân vẫn chìu theo ước nguyện của con nên để Ngài ở lại chùa tu hành. Thời gian thấm thoát 7 năm theo thầy hành điệu, hằng ngày tụng kinh lễ Phật, học tập kinh luật, song song với chương trình thế học. Năm Nhâm Tý (1972) sau khi học hết lớp đệ tứ, vì ở trong vùnglúc đó không có trường đệ nhị cấp, cho nên cố Hòa Thượng Thích Thiện Chí đã gửi Ngài vào Tổ Đình Thuyền Tôn để có cơ hội theo học chương trình đệ nhị cấp. Ở đây, Hòa thượng được sự che chở của Đức Cố Đệ Nhị Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên.

Năm Quý Sửu  (1973) đại giới đàn Phước Huệ ở Nha Trang khai mở, nhân dịp này Đức Cố Đệ Nhị Tăng Thống dạy Hòa thượng trở về chùa Quang Bảo đảnh lễ Cố Hòa Thượng Thích Thiện Chí để được thọ giới Sa di. Nhưng sau 3 lần về đảnh lễ mà cố Hòa thượng Thiện Chí đều khước từ và khuyên nên vào Tổ Đình Thuyền Tôn để nương uy đức của Ngài Cố Đệ Nhị Tăng Thống mà tu tập. Lúc bấy giờ, Đức Cố Tăng Thống đã 96 tuổi nên không thu nhận thêm đệ tử, Ngài liền dạy Hòa thượng đến đảnh lễ Thầy Giám tự Tổ Đình Thuyền Tôn lúc bấy giờ là Hòa thượng Thích Thiện Tấn làm Bổn sư, và được Hòa thượng Thích Thiện Tấn hoan hỷ ban pháp danh Nguyên An tự Viên Diệu, đồng thời được vào Nha Trang để thọ giới Sa di ở giới đàn Phước Huệ. Từ đây Hòa thượng theo hầu Bổn Sư ngày đêm chuyên cần tu học,và một lòng một dạ với Bổn sư gắn bó không rời dù trãi qua bao gian lao khổ cực. Vào tháng 12 năm Bính Thìn (1976), Hòa thượng được sự cho phép của Đức Cố Đệ Nhị Tăng Thống và Hòa thượng Bổn sư vào Sài Gòn thọ Tỳ kheo Bồ Tát giới ở giới đàn chùa Ấn Quang do Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ làm Đường Đầu Hòa Thượng, từ đây giới thể châu viên, dự vào hàng Chúng Trung Tôn, Hành Như Lai sứ, Tác Như Lai sự.

Thế rồi thời cuộc biến động, xã hội bất an vào năm Giáp Tý (1984) Hòa thượng đã vượt biển qua Philippine, đến năm Ất Sửu (1985) Hòa Thượng được Canada tiếp nhận định cư.

Từ ngày được định cư ở xứ lạ quê người, hình ảnh ngôi chùa Việt, đặc biệt là ngôi Tổ Đình Thuyền Tôn – Huế, nơi đã nuôi dưỡng và vun bồi pháp thân huệ mạng luôn luôn hiện lên trong ký ức của mình. Vì vậy, dù được Hội Phật Giáo chùa Quan Âm Montreal cung thỉnh giữ chức vụ trú trì, nhưng tâm nguyện của Ngài luôn mơ ước xây dựng một ngôi Tam Bảo Thuyền Tôn nơi xứ lạnh tình nồng này, để hoằng truyền Phật pháp làm rạng danh đức của chư Tổ.

Ban đầu Hòa thượng mua một ngôi nhà ở đường Ouimet thành phố Saint Laurent để làm nơi sinh hoạt phật sự, đặt tên chùa Thuyền Tôn. Sinh hoạt ở đây được một thời gian nhưng vì điều kiện địa lý và pháp lý không thuận tiện và nhu cầu của Phật tử ngày mỗi đông, nên Hòa thượng muốn tìm chỗ rộng hơn. Sau đó,  chùa Thuyền Tôn được chuyển đến địa chỉ mới ở số 6685 đường Alma thành phố Montreal, tỉnh Quebec, sinh hoạt Phật sự đến bây giờ. Đồng thời trong khoảng thời gian này, Hội Phật Giáo chùa Bồ Đề Quebec đã cung thỉnh Hòa Thượng về lãnh đạo tinh thần cho Hội. Trên vai trò này Hòa Thượng đã vận động và tạo mãi một cơ sở tọa lạc tại 2156, ave de la pagode, thành phố Quebec để làm chùa  Bồ Đề và đảm nhiệm chức vụ trụ trì.

Năm 1992 GHPGVNTN Hải Ngoại tại Canada được thành lập, Hòa Thượng được đại hội tín nhiệm và cung cử giữ chức Tổng vụ trưởng vụ Cư sĩ của Giáo Hội liên tục cho đến hôm nay.

Khi giới đàn Đôn Hậu được tổ chức vào mùa An Cư năm 1993 tại chùa Phật Quang, thành phố Edmonton, Aberta, Canada, Hòa Thượng được cung thỉnh làm đệ ngũ tôn chứng, đứng trong hàng thập sư trao truyền giới pháp, tiếp dẫn hậu lai, báo phật ân đức. Hòa thượng ý thức được sứ mệnh của người con Phật trong thời hiện đại, cần phải có cơ sở rộng lớn để phát triển nền đạo học của Tổ tông tại xứ người, nên đã lặn lội tìm nơi thiết lập đạo tràng. Hơn nữa, lời dạy của Tổ: “truyền trì diệu lý, diễn xướng chánh tông” là điều mà tâm nguyện luôn luôn canh cánh bên lòng. Năm Đinh Hợi (2007) Hòa Thượng đã mua một sở đất rộng 185 acer (khoảng 85 hecta) thuộc thành phố Cornwall tỉnh Ontario, để tạo dựng nơi đây ngôi Tổ Đình Thuyền Tôn hải ngoại, làm một trung tâm văn hóa Phật giáo, xiễn dương Phật pháp, vừa làm chỗ tu học và An cư Kiết hạ của Tăng Ni, là nơi đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu học Phật của phật tử khắp nơi, đồng thời để báo đáp Tổ đức trong muôn một.

Dự án đã đi vào bước đầu xây dựng, dầu thân đang mang nhiều trọng bệnh, không biết vô thường xãy đến khi nào, nhưng tâm nguyện thì luôn kiên cố, dù chỉ còn chút sức tàn. Ngài vẫn kiên trì xây dựng Tổ Đình mong để lại một thành quả có ý nghĩa cho đạo pháp, cho văn hóa Việt Nam nới xứ người, nhưng “nhân nguyện như thử, thiên lý vị nhiên”.

Nào ngờ bệnh cũ tái phát, sức khỏe ngày mỗi yếu dần, Hòa thượng đã xả bỏ báo thân vào lúc 22 giờ ngày 18 tháng 8 năm 2015, nhằm ngày mồng 5 tháng 7 năm Ất mùi, hưởng thọ 62 tuổi đời, 40 giới lạp. Mặc dầu Hòa Thượng đã trở về cảnh giới Phật, nhưng công đức và hạnh nguyện của Ngài vẫn mãi lưu lại với đời. Ngài là tấm gương sáng về chí nguyện kiên cường một lòng phụng vị đạo pháp, đáng để Tăng Ni phật tử noi theo.

Nam Mô Tân Viên Tịch Tự Lâm Tế Tông Liễu Quán Pháp Phái Đệ Thập Thế Khai Sáng Thuyền Tôn Hải Ngoại Tự Viện Chủ Húy Nguyên An Tự Viên Diệu Hiệu Huyền Đức Hòa Thượng Giác Linh Thùy Từ Chứng Giám.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/03/2019(Xem: 8599)
Ni trưởng Như Thanh như một đóa sen hồng vượt ra khỏi mặt nước với vẻ đẹp cao quí của một bậc giác ngộ. Tư tưởng nhập thế cứu khổ của người đã để lại cho đời một tấm gương sáng. Ni trưởng đã vân du khắp mọi miền đất nước, để thuyết giảng không hề mệt mỏi.
15/02/2019(Xem: 6979)
Trong cuộc sống, người ta thường chọn cho mình một mục tiêu để tiến tới. Riêng tôi, thường tìm về những mưu cầu tâm linh để thăng hoa cuộc sống của mình. Điều làm cho cuộc đời tôi thay đổi khi tôi cảm nhận được ánh sáng nhiệm mầu của Phật pháp đã sáng soi khởi nguồn từ thuở ấu thơ. Có thể nói sự đưa đẩy tìm về ánh sáng Phật pháp đã đến với tôi rất sớm bắt nguồn từ sự thiếu thốn tình thương một người Mẹ của đứa bé vừa lên một tuổi đã mồ côi.
29/01/2019(Xem: 12725)
Tiểu La Nguyễn Thành, nhân vật kiệt xuất của đất Quảng Nam, người khai sáng Duy Tân Hội, nhà lãnh đạo xuất sắc đồng thời cũng là người tri âm, tri kỉ của chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu.
27/01/2019(Xem: 12743)
Thông Điệp Xuân Kỷ Hợi 2019 của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ
19/01/2019(Xem: 8195)
Thời gian là cái gì thật mầu nhiệm, không hình không tướng, tưởng như nó dửng dưng, lạnh lùng trước muôn sự, nhưng lại thầm lặng ân cần cất giữ những gì đã đi qua, rồi tùy đối tượng mà hoài niệm. Không ai nắm bắt lại được những tờ lịch đã rơi, nhưng bước chân của bao bậc hiền nhân quân tửđều như còn in hằn trong không gian khi thời điểm luân lưu trở lại theo vận hành của trời đất.
12/01/2019(Xem: 21307)
Thông Bạch Tết Kỷ Hợi 2019 Của Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ Sa Môn Thích Thắng Hoan
11/01/2019(Xem: 13317)
Co lẽ mùa trăng Thành Đạo 2562 – 2018 sẽ khó quên đối với nhạc sĩ Hằng Vang và gia đình, khi giữa bao cơn lốc thực dụng xâm chiếm nhiều ngõ ngách cuộc sống và lấn sang cả khu vực luôn được bảo trọng của tâm hồn trong từng con người: Trái tim ! Nếu nói về một sự tưởng thưởng hay tri ân thì nhạc sĩ Hằng Vang có thể còn đi bên trên những khuôn sáo, danh vọng đó. Hơn thế nữa sẽ không ai có thể nhân danh để ghi nhận sự tận tâm , cống hiến gần cả cuộc đời cho âm nhạc Phật giáo mà không hề đòi hỏi một đồng lương, một phần thưởng nào trong suốt 86 năm dài tận tụy của người nhạc sĩ lão thành hiện đang còn sống duy nhất bên chúng ta.
01/01/2019(Xem: 11478)
Hòa Thượng Thích Mãn Giác, pháp danh Nguyên Cao, đạo hiệu Huyền Không, thế danh Võ Viết Tín, sinh năm Kỷ Tỵ, 1929 tại Cố đô Huế, trong một gia đình mà Nội Ngoại đều tin Phật và nhiều nguời trong thân quyến đã có duyên xuất gia và nổi tiếng thân danh trên đường tác thành Phật sự. Cố đô Huế chỉ là sinh quán, còn nguyên quán thuộc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
16/12/2018(Xem: 10690)
1.Bảo An Hòa Thượng Nhất Đại Tôn Sư Đại Hỷ Đại Từ Trung Nam Bắc Phái Tề Tâm Kính Ngưởng. 2. Phổ Bảo Danh Lam Thiên Ban Diệu Dụng Ban Tuệ Ban Ân Thượng Hạ Biên Phương Chí niệm Quy Y.
07/12/2018(Xem: 9960)
Trong diễn văn của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại buổi khai mạc Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội, sáng ngày 14.5.2008 đã khẳng định: “Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân.