Kính nhớ Thầy

19/08/201519:44(Xem: 8897)
Kính nhớ Thầy



HT Thich Giac Toan

1. 

Lần đầu con gặp Pháp sư

Mà nghe tâm cảm dường như quen rồi

Dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi

Cùng là những lúc nói cười thân thương

Lại thêm những lúc thượng đường

Uy nghi thuyết giảng, pháp tuôn hùng hồn

Âm thanh trầm ấm du dương

Lòng con bừng ngộ thiền hương dạt dào

Thì ra ngàn kiếp tâm giao

Linh Sơn cốt nhục ngọt ngào trong tim

Nụ cười ru giấc ngủ êm

Pháp âm đồng vọng tận tiềm thức xưa

Nhân duyên như đợi, như chờ

Nay Thầy về nối giấc mơ hôm nào!

Thầy đi lòng những nao nao

Đoàn du Tăng vẫy tay chào vấn vương!


2.

Đời Thầy sứ giả hoằng dương

Rày đây mai đó… du phương ta bà

Hạnh tu Khất sĩ Tăng-già

Tam y nhất bát, ngàn nhà hóa duyên

Đâu đâu Thầy cũng hiện tiền

Bồ-tát bổ xứ… rưới hiền độ sanh

Một ngày phát túc căn lành

Trung Tâm tịnh xá sẵn dành hồng ân

Con quỳ trình bạch tỏ phân

Thầy nhận con, tiếp nối vần độ sanh

Sáu lăm, bảy tám … hóa thành

Mười ba năm (1965-1978)… hạnh cao thanh gội nhuần

Dòng đời xe pháp chuyển luân

Bóng Thầy ngàn dặm phong trần mười phương

 

Ấn tâm tịnh lạc chơn thường

Trung Tâm – Pháp viện… đạo trường thắng duyên.

3.

Đệ huynh gắn kết mối giềng

Đồng tâm hiệp lực nhiệm huyền xưa sau

Trời xanh mây trắng chiêm bao

Năm châu bốn biển một màu đại dương

Thầy đi biền biệt tha hương

Mong Thầy vạn dặm cát tường nhân gian

Trung Tâm pháp hội truyền đăng

Cùng nhau sách tấn hòa chan thế trần.

Ngày ngày chuyển pháp xa luân

Tháng năm góp nhặt tinh thần xương minh

Tăng-già tăng trưởng tâm linh

Tại gia cư sĩ thoát tình lầm mê

Mỗi tuần mỗi vượt sơn khê

Chơn lý pháp bảo nẻo về thanh lương

Nhớ ân Phật tổ khai đường

Niệm ân Thầy đã soi gương hạnh lành

Pháp trần bùi ngọt khế chanh

Đạo thiêng trầm mặc cao thanh hương thiền

Thất tình lục dục… não phiền

Giới định tuệ trú an nhiên tịch nhàn.

4.

Bốn phương tám hướng trần gian

Tâm yên thì vạn nẻo đàng đều yên

Tâm vọng dù ở cảnh tiên

Lao xao mộng tưởng cái triền[i] buộc thân

Ánh nhiên đăng” chiếu diệu trần

Tĩnh tâm tứ kệ” chân nhân Thầy truyền

Hiển đạo “Pháp môn tọa thiền

Hiếu hạnh “Thương nhớ mẹ hiền” hương thiêng

Ta bà ngàn dặm pháp duyên

Mỗi bước đi, mỗi lời hiền giảng phân

Truyền trao “Tư tưởng siêu nhân

Giáo khuyên “Trai giới trường sinh” thiện lành

Thương đời “Diệu lý…” tương sanh

Vô lượng pháp bảo hóa thành phạm âm

Đông phương”, “Pháp đăng”, “ Thậm thâm”

Nhiên đăng”, “Tuệ…”, “Bảo…” “Tỉnh tâm”, “Định thiền

Minh Quang”, “Viên thông”, “Tâm kinh

Phá mê”, “Bát-nhã”… huyền linh ngút ngàn

Chữ Tê (T) lợi hại… vô vàn

Tình, tiền, tù, tội… trái oan khổ buồn

Nhân quả chuyền níu vấn vương

Tỉnh thức giải thoát chơn thường tịnh không.

5.

Đời Thầy Nam, Bắc, Tây, Đông

Công đức viên mãn thuận dòng bệnh duyên

Chín năm sâu lắng giải phiền (2006-2015)

Ly xả tứ đại, an nhiên tịch nhàn

Tăng Ni, Phật tử các hàng

Kính thương mến tiếc… lệ tràn bờ mi

Đạo tình sanh tử biệt ly

Thầy đi, con ở sầu bi khôn cùng

Trời Ca-li tiễn... lệ tuôn

Trời Sài Gòn đón… suối nguồn hiếu tâm

Xưa Thầy đi bóng xa xăm

Nay Thầy về lại tịch trầm hương thiêng

Thầy về trong giấc ngủ yên

Nhục thân tĩnh lặng ngự thuyền tường vân

Nam-mô Phật chứng pháp thân

Nam-mô Pháp bảo hiển thần Sa-môn

Nam-mô Tăng nhập Linh Sơn

Tứ đức “tịnh lạc ngã thường” thiền gia

Nam-mô Bát-nhã ba la

Niết-bàn an trụ Tăng-già hạo nhiên!

PV.Minh Đăng Quang-Q.2, 03/7/Ất Mùi

Trần Quê Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/10/2010(Xem: 8831)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 8763)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8561)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8396)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 7964)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 12973)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 21919)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 26683)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
22/10/2010(Xem: 9227)
Chuông ngân chùa xẩm nắng Hương quyện áo tràng bay Trăm tám vì sao rạng Xoay tròn đôi 1óng tay Mười phương cây lặng gió Năm sắc hồ trôi mây Làn nước lên đầu núi Ánh vàng tràn đó đây.
21/10/2010(Xem: 10275)
Trong cõi nhân gian mịt mù tăm tối vì vô minh và phiền não, sự xuất hiện của một bậc chân tu đạo hạnh để dìu dắt con người trên đường tìm về giác ngộ và giải thoát, quả thật không khác gì một vì sao sáng trên bầu trời làm định hướng cho lữ hành trong đêm tối. Trong ý nghĩa này, Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Chơn là một vì tinh tú sáng rực.