Điếu văn của HT Giác Lượng

10/08/201516:04(Xem: 12003)
Điếu văn của HT Giác Lượng

Điếu văn của Hòa thượng Thích Giác Lượng

Viện trưởng Viện Hành Đạo Giáo Hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới

Tưởng Niệm Cố Trưởng Lão HT. Pháp Chủ Thích Giác Nhiên

 

Mây trời Mỹ Quốc còn in bóng,

Biển nước California vẫn xuôi dòng,

Đất Mẹ Việt Nam… Khất sĩ Cội hồng,

Pháp Khất sĩ Giác Nhiên hôm nay cao lồng lộng,

Đến tận miền Mỹ, Úc, Âu châu,

Tổ đình, Tịnh xá… Minh Đăng Quang khai mở,

Giáo pháp hoằng truyền giáo hóa quần sanh,

Tứ chúng đồng tu an lạc hạnh,

Đạo thể vuông tròn nhập Niết-bàn bất diệt vô sanh,

Giáo hội kính ghi gương đạo hạnh,

Ta-bà lưu dấu bóng chân nhân.

 

Kính bạch Giác linh Đức Ngài Pháp Chủ Giáo Hội Phật giáo Tăng-già Khất sĩ Thế giới,

Trước kim quan của Hòa thượng Pháp chủ,

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt,

Trang nghiêm thanh tịnh,

Con thành kính nghiêng mình tiễn biệt Đức Ngài Cao đăng Phật quốc.

Hòa thượng  trở về nơi cõi Phật,

Dẫu biết rằng sinh tử là lẽ thường,

Nhưng làm sao tránh khỏi bùi ngùi vĩnh  biệt!

 

Nhớ Giác linh xưa:

Năm Quý Hợi (1923), tại Trấn Giang, Cần Thơ

Ghi dấu một cao tăng tái kiếp làm hài nhi

Thân tướng trượng phu, cốt cách phương phi

Trong gia đình, Thân Phụ Mẫu đều tin Phật.

 

Mồ côi cha khi vừa tròn tám tuổi

Lại vĩnh biệt mẹ lúc đương xuân trai trẻ

Nhìn thấy đời Vô thường, sinh tử

Nghiên tầm Phật pháp, quyết chí đi tu.

 Mười sáu tuổi xuân,

Từ bỏ cuộc đời trần tục, cầu đạo xuất gia,

Thầy Minh Trí ban Pháp hiệu Minh Châu,

Rồi đến Ngài Đại Lão Hòa Thượng Minh Phụng, ban Pháp hiệu Tánh Chơn.

Ngày đêm tinh tấn, ít ngủ, siêng tu

Kinh điển thuộc làu trong thời gian ngắn,

Dòng Thời gian lần hồi trôi  theo dòng pháp,

Bước chân Minh Đăng Quang xuất hiện trời Nam,

Ánh Nhiên Đăng ngời ngời sang tỏ;

Năm Tân Mão, xuôi dòng sông Mê Kông Cần Thơ học đạo

Nương bóng từ:

Thọ giáo với Đức Tổ sư Minh Đăng Quang

Thật hành theo hạnh du Tăng Khất sĩ,

Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp,

Kể từ đó, bước chân người Khất sĩ vân du,

Xuân Thu khất thực chỉnh chu đạo vàng,

Năm Giáp Ngọ (1954), đức Tổ Sư vắng bóng;

Tiếp tục dẫn đoàn du Tăng Khất Sĩ hành đạo khắp nơi,

Khai mở thêm 30 ngôi Tịnh xá mới.

Trưởng lão Hòa thượng đem hết sức mình,

Hộ trì Phật pháp, phát triển Tăng đồ

Không ngại gian lao vất vả,

Cùng Tăng đoàn Khất sĩ rộng mở bốn phương,

Tinh tấn tu hành,

Nghiêm trì giới luật mô phạm, uy nghiêm.

Pháp chủ  kiên trì cần mẫn,

Lãnh đạo Tăng đoàn, giáo dục Tăng Ni, Phật tử;

Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.

Công đức ấy Giáo hội luôn luôn ghi tạc,

Nơi Phật quốc ánh Nhiên Đài mãi sáng.

 

Vô thường, sinh diệt – định luật ngàn thu

Thân tứ đại mỏi mòn, tuy lâm trọng bệnh,

Nhưng Đức Ngài vẫn an nhiên tự tại,

Bởi sinh tử vô thường là sự đại,

Hôm nay đây duyên hết, đạo nghiệp viên thành,

Nơi Tịnh xá Minh Đăng Quang,

Viện truyền thống nối gót Phật, Tổ Thầy về đài Giác ngộ;

Từ đây,

Chúng con mất đi Thầy hướng đạo

Ta-bà vắng bóng bậc Ân sư.

Pháp tử chúng con kính cẩn nghiêng mình,

Vạn lần cúi đầu đảnh lễ,

Ngưỡng mong giác linh Trưởng lão Hòa thượng an lành nơi cõi Phật,

Hồi nhập Ta-bà,

Tiếp tục hạnh nguyện giác tha,

Tuyên dương giáo pháp.

 

Giờ đây trước án kim quan,

Hương từ tỏa ngát,

Trí tuệ đăng minh,

Xin dâng nén tâm hương,

Ngưỡng mong giác linh Trưởng Lão từ bi chứng giám.

 

Đúng là:

Minh Đăng Quang Cội an lành,

GIÁC Ngộ Ta-bà, dìu dắt chúng

NHIÊN Đăng, phổ chiếu khắp quần sanh.

 

Kính lạy Giác linh Thầy,

Vạn lần, vạn lần…. Kính lễ bái biệt bậc chân nhân.

 

Nam Mô Giác linh Trưởng Lão Hòa thượng Pháp chủ Thích Giác Nhiên Thùy từ chứng giám.

 


Viện Hành Đạo – Tổ Đình Minh Đăng Quang,

Ngày cuối Hè Tang thương tháng 8, năm Ất Mùi - 2015, Tỳ kheo Giác Lượng thủ bút.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/11/2010(Xem: 18648)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
01/11/2010(Xem: 50583)
Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 1, Chùa Pháp Hoa (2000) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 2, Chùa Pháp Bảo (2001) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 3, Chùa Linh Sơn (2002) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 4, Tu Viện Vạn Hạnh (2003) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 5, Tu Viện Quảng Đức (2004) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 6, Chùa Phổ Quang (2005) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 7, Chùa Pháp Bảo (2006) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 8, Chùa Pháp Hoa (2007) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 9, Chùa Linh Sơn (2008) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 10, Chùa Pháp Bảo (2009) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 11, Thiền Viện Minh Quang (2010) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 12, Tu Viện Quảng Đức (2011) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 13, Tu Viện Vạn Hạnh (2012) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 14, Thiền Viện Minh Quang (2013) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 15, Tu Viện Quảng Đức (2014) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 16, Chùa Pháp Pháp Bảo (2015) Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17, Tu Viện Quảng Đức (2016) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 18, Chùa Pháp Hoa (2017) Khóa An Cư Kiết Hạ kỳ 19, Chùa Pháp Hoa (2018)
29/10/2010(Xem: 10462)
Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ” (9).
23/10/2010(Xem: 9142)
Trong Cây Có Hoa Trong Đá Có Lửa Kính Dâng Hòa Thượng Thích Như Điển nhân dịp mừng thọ 70 tuổi của Ngài và kỷ niệm 40 năm khai sơn Chùa Viên Giác tại Đức Quốc Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng “Trong Cây Có Hoa, Trong Đá Có Lửa” là lời pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên do Hòa Thượng Thích Như Điển nhắc lại trong thời giảng Pháp của Ngài mà tôi đã nghe được khi theo hầu Ngài trong chuyến đi Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ năm 2006. Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) là người Nhật, Ngài sinh năm 1200 và tịch năm 1253, thọ 53 tuổi. Ngài là Sáng Tổ của của Soto-Zen (Thiền Tào Động) của Nhật Bản, và là tác giả bộ sách nổi tiếng “Chánh Pháp Nhãn Tạng” “Ki no naka ni, hana ga aru (Trong cây có hoa), Ishi no naka ni, hi ga aru (Trong đá có lửa)” Đó là pháp ngữ của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen), được Hòa Thượng Như Điển dịch sang lời Việt. Lời thơ quá tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng dung chứa cả một kho tàng giáo lý về Nhân Duyên Quả của Đạo Phật.
23/10/2010(Xem: 9005)
Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua giỏi và tài hoa bậc nhất. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” đời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.
23/10/2010(Xem: 8759)
Về sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông, đã có rất nhiều tài liệu và bài viết về hai lần lãnh đạo quân dân nước ta đánh thắng giặc Mông - Nguyên, trị quốc an dân, đối ngoại và mở cõi, nên ở đây chúng tôi không lặp lại nữa, mà chỉ đề cập đôi nét đến nội dung khác về: Trần Nhân Tông - một hoàng đế xuất gia, một thiền sư đắc đạo và là sơ tổ lập nên dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử độc đáo của Việt Nam.
23/10/2010(Xem: 8563)
Hội Phật Học Nam Việt được thành lập vào năm 1950 tại Sài Gòn do sự vận động của cư sĩ Mai Thọ Truyền. Ban đầu, hội đặt trụ sở tại chùa Khánh Hưng, và sau đó ít lâu, tại chùa Phước Hòa. Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, một cây cột trụ của hội Lưỡng Xuyên Phật Học cũ đảm nhận trách vụ hội trưởng. Ông Mai Thọ Truyền giữ trách vụ tổng thư ký. Các thiền sư Quảng Minh và Nhật Liên đã triệt để ủng hộ cho việc tổ chức hội Phật Học Nam Việt. Thiền sư Quảng Minh được bầu làm hội trưởng của hội bắt đầu từ năm 1952. Năm 1955, sau khi thiền sư Quảng Minh đi Nhật du học, ông Mai Thọ Truyền giữ chức vụ hội trưởng. Chức vụ này ông giữ cho đến năm 1973, khi ông mất. Hội Phật Học Nam Việt được thành lập do nghị định của Thủ Hiến Nam Việt ký ngày 19.9.1950. Bản tuyên cáo của hội có nói đến nguyện vọng thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong nước. Bản tuyên cáo viết: "Đề xướng việc lập hội Phật học này. Chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc Trung Nam sẽ bắt tay trên nguyên tắc cũng như trong hành động. Sự
23/10/2010(Xem: 8100)
Cư sĩ Mai Thọ Truyền sinh ngày 01-4-1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre trong một gia đình trung lưu. Thuở nhỏ ông được theo học tại trường Sơ học Pháp - Việt Bến Tre, rồi Trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Saigon. Năm 1924, ông thi đậu Thư ký Hành chánh và được bổ đi làm việc tại Sài Gòn, Hà Tiên, Chợ Lớn. Năm 1931, ông thi đậu Tri huyện và đã tùng sự tại Sài Gòn, Trà Vinh, Long Xuyên và Sa Đéc. Hành nhiệm ở đâu cũng tỏ ra liêm khiết, chính trực và đức độ, không xu nịnh cấp trên, hà hiếp dân chúng, nên được quý mến.
23/10/2010(Xem: 13124)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, vương triều Trần (1226-1400) được tôn vinh là triều đại sáng chói nhất thể hiện qua những chiến công hiển hách thắng giặc ngoại xâm cũng như chính sách hộ quốc an dân đã tổng hợp được sức mạnh của toàn dân ta cùng với vua quan trong việc bảo vệ và phát triển đất nước vô cùng tốt đẹp.
23/10/2010(Xem: 22309)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.