Quyển 6: Phẩm Tương Ưng 03

22/06/201519:57(Xem: 20708)
Quyển 6: Phẩm Tương Ưng 03

Tập 01,
Quyển 06,
Phẩm Tương Ưng 03
Bản dịch của HT Thích Trí Nghiêm

Diễn đọc: Cư Sĩ Chánh Trí

 

 

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái thường của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái vô thường của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái vô thường của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái vui của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái khổ  của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái vui của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái khổ  của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái không của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái vô tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của nhãn xúc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhãn xúc; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái có của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái thường của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô thường của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái thường của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô thường của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vui của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái khổ của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái vui của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái khổ  của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái ngã của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô ngã của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái ngã của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái vô ngã của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái không của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng không của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái không của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng không của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu tướng của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái vô tướng của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu tướng của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của các thọ do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc làm duyên sanh ra.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của địa giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của địa giới; chẳng đắm vào cái có của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thủy, hỏa, phong, không, thức giới;

Chẳng đắm vào cái thường của địa giới, chẳng đắm vào cái vô thường của địa giới; chẳng đắm vào cái thường của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái vô thường của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái vui của địa giới, chẳng đắm vào cái khổ  của địa giới; chẳng đắm vào cái vui của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái khổ của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái ngã của địa giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của địa giới; chẳng đắm vào cái ngã của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái vô ngã của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của địa giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của địa giới; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái không của địa giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của địa giới; chẳng đắm vào cái không của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái chẳng không của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của địa giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của địa giới; chẳng đắm vào cái vô tướng của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của địa giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của địa giới; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của thủy, hỏa, phong, không, thức giới, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của nhân duyên, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của nhân duyên; chẳng đắm vào cái có của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái thường của nhân duyên, chẳng đắm vào cái vô thường của nhân duyên; chẳng đắm vào cái thường của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái vô thường của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vui của nhân duyên, chẳng đắm vào cái khổ  của nhân duyên; chẳng đắm vào cái vui của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra; chẳng đắm vào cái khổ  của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái ngã của nhân duyên, chẳng đắm vào cái vô ngã của nhân duyên; chẳng đắm vào cái ngã của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái vô ngã của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của nhân duyên, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của nhân duyên; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái không của nhân duyên, chẳng đắm vào cái chẳng không của nhân duyên; chẳng đắm vào cái không của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái chẳng không của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của nhân duyên, chẳng đắm vào cái hữu tướng của nhân duyên; chẳng đắm vào cái vô tướng của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu tướng của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của nhân duyên, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của nhân duyên; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của các pháp do đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên và các duyên khác sanh ra.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa chẳng đắm vào cái có của vô minh, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của vô minh; chẳng đắm vào cái có của hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái thường của vô minh, chẳng đắm vào cái vô thường của vô minh; chẳng đắm vào cái thường của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái vô thường của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái vui của vô minh, chẳng đắm vào cái khổ  của vô minh; chẳng đắm vào cái vui của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái khổ  của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái ngã của vô minh, chẳng đắm vào cái vô ngã của vô minh; chẳng đắm vào cái ngã của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái vô ngã của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của vô minh, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của vô minh; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái không của vô minh, chẳng đắm vào cái chẳng không của vô minh; chẳng đắm vào cái không của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái chẳng không của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của vô minh, chẳng đắm vào cái hữu tướng của vô minh; chẳng đắm vào cái vô tướng của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái hữu tướng của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của vô minh, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của vô minh; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của hành cho đến lão tử sầu, than, khổ, lo, phiền, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, lo, phiền.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái có của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái thường của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô thường của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái thường của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô thường của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái vui của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái khổ  của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái vui của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa lạc, chẳng đắm vào cái khổ  của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái ngã của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô ngã của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái ngã của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái vô ngã của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái không của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng không của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái không của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái chẳng không của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái vô tướng của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bố thí Ba-la-mật-đa; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của cái không nội, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của cái không nội; chẳng đắm vào cái có của cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không không thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái thường của cái không nội, chẳng đắm vào cái vô thường của cái không nội; chẳng đắm vào cái thường của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh; chẳng đắm vào cái vô thường của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái vui của cái không nội, chẳng đắm vào cái khổ  của cái không nội; chẳng đắm vào cái vui của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái khổ  của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái ngã của cái không nội, chẳng đắm vào cái vô ngã của cái không nội; chẳng đắm vào cái ngã của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái vô ngã của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của cái không nội, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của cái không nội; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái không của cái không nội, chẳng đắm vào cái chẳng không của cái không nội; chẳng đắm vào cái không của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái chẳng không của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của cái không nội, chẳng đắm vào cái hữu tướng của cái không nội; chẳng đắm vào cái vô tướng cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái hữu tướng của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của cái không nội, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của cái không nội; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của chơn như, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của chơn như; chẳng đắm vào cái có của pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, định pháp, trụ pháp, thật tế, cõi hư không, cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái thường của chơn như, chẳng đắm vào cái vô thường của chơn như; chẳng đắm vào cái thường của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái vui của chơn như, chẳng đắm vào cái khổ  của chơn như; chẳng đắm vào cái vui của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái khổ  của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái ngã của chơn như, chẳng đắm vào cái vô ngã của chơn như; chẳng đắm vào cái ngã của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của chơn như, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của chơn như; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái không của chơn như, chẳng đắm vào cái chẳng không của chơn như; chẳng đắm vào cái không của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của chơn như, chẳng đắm vào cái hữu tướng của chơn như; chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của chơn như, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của chơn như; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp giới cho đến cõi không thể nghĩ bàn.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái có của bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái thường của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái thường của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái vui của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái khổ  của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái vui của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái khổ  của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái ngã của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái ngã của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái không của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái không của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn niệm trụ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn niệm trụ; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái có của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái thường của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái vô thường của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái thường của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái vô thường của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái vui của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái khổ của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái vui của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái khổ của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái ngã của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái vô ngã của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái ngã của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái vô ngã của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái không của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái chẳng không của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái không của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái chẳng không của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái vô tướng của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái hữu tướng của thánh đế tập, diệt, đạo.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của thánh đế khổ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thánh đế khổ; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của thánh đế tập, diệt, đạo, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của thánh đế tập, diệt, đạo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái có của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái thường của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái thường của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái vui của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái khổ của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái vui của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái khổ của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái ngã của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái ngã của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái không của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái không của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn tịnh lự, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn tịnh lự; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái có của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

 Chẳng đắm vào cái thường của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái vô thường của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái thường của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái vô thường của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái vui của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái khổ của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái vui của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái khổ của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái ngã của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái vô ngã của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái ngã của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái vô ngã của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái không của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái chẳng không của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái không của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái chẳng không của tám thắng xứ, chín định thứ đế, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái vô tướng của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện  của tám giải thoát, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tám giải thoát; chẳng đắm vào cái vô nguyện  của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tám thắng xứ, chín định thứ đệ, mười biến xứ.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái có của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái thường của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái thường của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái vui của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái khổ của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái vui của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái khổ của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái ngã của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái ngã của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái không của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái không của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của pháp môn giải thoát không, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp môn giải thoát không; chẳng đắm vào cái vô nguyện của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái có của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái thường của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái vô thường của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái thường của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái vô thường của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái vui của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái khổ của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái vui của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái khổ của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái ngã của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái vô ngã của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái ngã của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái vô ngã của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái không của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái chẳng không của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái không của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái chẳng không của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái vô tướng của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của tất cả pháp môn Đà-la-ni, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tất cả pháp môn Đà-la-ni; chẳng đắm vào cái vô nguyện của tất cả pháp môn Tam-ma-địa, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tất cả pháp môn Tam-ma-địa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái có của bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái thường của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái vô thường của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái thường của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái vô thường của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái vui của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái khổ của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái vui của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái khổ của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái ngã của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái vô ngã của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái ngã của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái vô ngã của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái không của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái chẳng không của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái không của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái chẳng không của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái vô tướng của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của bậc Cực hỷ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bậc Cực hỷ; chẳng đắm vào cái vô nguyện của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bậc Ly cấu cho đến bậc Pháp vân.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái có của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái thường của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái vô thường của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái thường của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái vô thường của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái vui của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái khổ của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái vui của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái khổ của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái ngã của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái vô ngã của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái ngã của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái vô ngã của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái không của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái chẳng không của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái không của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái chẳng không của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái hữu tướng của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái vô tướng của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái hữu tướng của sáu phép thần thông.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của năm loại mắt, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của năm loại mắt; chẳng đắm vào cái vô nguyện của sáu phép thần thông, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của sáu phép thần thông.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái có của bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái thường của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái vô thường của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái thường của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái vô thường của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái vui của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái khổ của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái vui của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái khổ của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái ngã của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái vô ngã của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái ngã của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái vô ngã của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái không của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái chẳng không của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái không của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái chẳng không của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái hữu tướng của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái vô tướng của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái hữu tướng của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của mười lực của Phật, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của mười lực của Phật; chẳng đắm vào cái vô nguyện của bốn điều không sợ, cho đến mười tám pháp Phật bất cộng, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của bốn điều không sợ cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái có của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái thường của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái vô thường của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái thường của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái vô thường của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái vui của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái khổ của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái vui của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái khổ của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái ngã của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái vô ngã của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái ngã của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái vô ngã của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái không của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái chẳng không của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái không của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái chẳng không của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái hữu tướng của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái vô tướng của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của ba mươi hai tướng đại sĩ, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của ba mươi hai tướng đại sĩ; chẳng đắm vào cái vô nguyện của tám mươi vẻ đẹp kèm theo, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tám mươi vẻ đẹp kèm theo.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái có của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái thường của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái vô thường của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái thường của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái vô thường của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái vui của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái khổ của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái vui của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái khổ của tánh luôn luôn xả

Chẳng đắm vào cái ngã của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái vô ngã của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái ngã của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái vô ngã của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái không của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái chẳng không của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái không của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái chẳng không của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái hữu tướng của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái vô tướng của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tánh luôn luôn xả.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của pháp không quên mất, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của pháp không quên mất; chẳng đắm vào cái vô nguyện của tánh luôn luôn xả, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tánh luôn luôn xả.

          Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái có của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái thường của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái vô thường của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái thường của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái vô thường của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái vui của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái khổ của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái vui của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái khổ của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái ngã của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái vô ngã của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái ngã của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái vô ngã của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái không của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái chẳng không của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái không của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái chẳng không của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái hữu tướng của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái vô tướng của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái hữu tướng của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của trí nhất thiết, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của trí nhất thiết; chẳng đắm vào cái vô nguyện của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

          Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái có của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái thường của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái vô thường của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái thường của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái vô thường của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái vui của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái khổ của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái vui của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái khổ của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái ngã của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái vô ngã của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái ngã của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái vô ngã của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái không của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái chẳng không của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái không của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái chẳng không của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái hữu tướng của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái vô tướng của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái hữu tướng của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của quả Dự-lưu, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của quả Dự-lưu; chẳng đắm vào cái vô nguyện của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của quả Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, và quả vị Độc-giác.

          Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng đắm vào cái có của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái có của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái chẳng phải có của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái thường của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái vô thường của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái thường của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái vô thường của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái vui của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái khổ của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái vui của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái khổ của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái ngã của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái vô ngã của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái ngã của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái vô ngã của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái tịch tịnh của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái tịch tịnh của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái chẳng tịch tịnh của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái không của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái chẳng không của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái không của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái chẳng không của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái vô tướng của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái hữu tướng của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái vô tướng của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái hữu tướng của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

Chẳng đắm vào cái vô nguyện của tất cả hạnh đại Bồ-tát, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của tất cả hạnh đại Bồ-tát; chẳng đắm vào cái vô nguyện của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật, chẳng đắm vào cái hữu nguyện của quả vị Giác ngộ cao tột của chư Phật.

          Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta chẳng hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta cũng hành, cũng không hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa; chẳng khởi lên ý nghĩ thế này: Ta chẳng phải hành, chẳng phải chẳng hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với các pháp như vậy, nên gọi là cùng tương ưng với Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

 

Quyển thứ 06
HẾT
 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/01/2013(Xem: 8578)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9710)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9980)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 15374)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 8148)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...
22/09/2012(Xem: 9830)
Ni sư Thích Nữ Như Phụng nguyên là viện chủ chùa Long Vân , sinh tiền Ni sư là cố vấn ni chúng chùa Long Vân , làm Hóa chủ trường hạ trong 6 năm , trưởng phòng châm cứu từ thiện của chùa,thành viên mặt trận tổ quốc xã Tam Phước , trưởng bếp cơm từ thiện Bệnh viện đa khoa Long Thành. Suốt cả cuộc đời ni sư tận tụy cho sự nghiệp tu hành và hoằng dương Đạo pháp , một lòng chuyên tâm Niệm Phật A Di Đà , công quả viên mãn Ni sư an nhiên tự tại vãng sanh trong lúc đứng Niệm Phật cùng đại chúng trên Đại hùng bảo điện không gian tràn ngập hương cúng dường thanh tịnh .Sau khi làm lễ trà tì ngài để lại rất nhiều xá lợi minh chứng cho công đức tu hành tinh nghiêm của một vị cao ni.
21/09/2012(Xem: 13549)
Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
20/09/2012(Xem: 7681)
Sáng nay con về lại Vạn Hạnh, không phải đi học, không phải nộp bài thi, không phải đi đảnh lễ,... mà để đi tiễn Ôn về với Phật. Con hòa mình vào dòng người tấp nập trên giao lộ Nguyễn Kiệm trong buổi sớm bình minh. Một ngày như mọi ngày nhưng cảnh vật hôm nay không còn bình yên nữa. Cây cỏ úa màu, hoa buồn ủ rũ. Mọi người tất bật, nôn nao bước nhanh về cổng chùa Vạn Hạnh, như sợ chậm chân sẽ không còn chỗ cho mình cung tiễn Thầy đi.
08/09/2012(Xem: 10275)
Với Hòa thượng Minh Châu, một đại sư đã ra đi. Một đại sư cỡ ấy, thế hệ chúng ta chỉ có vài vị. Vài vị, nhưng là những ngọn đuốc soi sáng đường đi cho cả một nửa thế kỷ. Hôm nay, ngọn đuốc gần như là cuối cùng ấy đã tắt. Đã tắt, để nói với chúng ta, như Phật đã nói khi nhập diệt: Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
08/09/2012(Xem: 7965)
Tin Sư Ông ra-đi-về cõi bất sinh đã dệt nên những cơn bồi hồi, xúc động. Biết nói cái gì, và sẽ nói cái gì về một vầng ánh sáng chói lọi vừa lịm tắt? Càng cố nói về cái “rạng rỡ” thì càng trở nên vụng về! Nhưng vượt lên trên tất cả và vẫn còn hiện hữu nơi đây là tấm lòng tri ân sâu sắc đối với công trình dịch thuật Kinh tạng của Người. Lòng tri ân sâu thẳm đó vẫn âm ỉ trong tâm thức của những người từng có cơ duyên được học hỏi “triết lý giác ngộ”- một thứ triết lý nguyên thủyhàm chứa những kinh nghiệm chứng ngộ rất ngườicủa Đức Thế Tôn.