Đại Tường Sư Ông (TN Như Viên)

01/08/201406:54(Xem: 19902)
Đại Tường Sư Ông (TN Như Viên)

ĐẠI TƯỜNG SƯ ÔNG

Con cúi lạy với lòng thành tưởng nhớ

Hướng về đây ngày đại lễ Sư Ông

Đại tường lễ cùng lạc thành đại tự

Mái nhà chung giáo hội đã trọn thành

Người người hân hoan vui vầy đoàn tụ

Lễ lạc đông vầy chắc Thầy an vui

Nơi cõi nào xa Thầy về chứng giám

Mái chùa chung pháp lữ vẫn quây quần

Ai cũng nhớ cũng thương bóng Thầy in đậm

Dáng người gầy với chiếc áo nâu nâu

Đi khắp năm châu lo nhiều Phật sự

Hai chùa Khánh Anh gánh vác dựng xây

Sức người làm sao chan hòa chịu đựng

Những nỗi niềm còn vướng vất chung quanh

Lái chiếc thuyền nan gập ghềnh bao nỗi

Ôi ! Thân Thầy một sớm lìa tan

Hôm nay đại tường lòng người hồi tưởng

Ai rồi cũng đi - từ giã cõi nầy

Nhưng với Sư Ông ai ai cũng nhớ

Nhớ mãi trong lòng dáng dấp thân thương

Âu Châu bổ xứ bóng cây đại thụ

Một đời tận tụy Phật sự gánh mang

Đàn con đàn em mỗi ngày thêm lớn

Trách nhiệm Thầy nhiều nhiều mãi thêm lên

Giông tố chung quanh vẫn luôn dõi bước

Bước chân Thầy vẫn chẳng quảng sá chi

Phật sự đường đi Thầy tự nêu cao

Trong chí hướng bậc xuất trần thượng sĩ

Hôm nay Khánh Anh đông vầy tưởng niệm

Lòng con lòng người ấm áp chung vui

Vẫn biết dáng Thầy trầm lặng trên cao

Nhưng vẫn nghĩ luôn có Thầy bên cạnh

Thầy đi Thầy về mái chùa sừng sửng

Với thời gian còn soi bóng trăm năm

Dư hương cũ ôm gió ngàn phảng phất

Thoảng đâu đây bóng dáng nhẹ mông mênh

Lòng hoài niệm con dâng Thầy ngày lễ

Cùng bao người nỗi nhớ mãi khôn nguôi

Khánh Anh hôm nay mai này cũng vậy

Mái nhà chung Giáo Hội vẫn vun bồi.




TN NHƯ VIÊN

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2011(Xem: 7588)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7691)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8693)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7557)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8469)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17052)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8626)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 9850)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8207)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9155)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.