Người Cha....(Thiện Mẫn)

21/08/201320:14(Xem: 20321)
Người Cha....(Thiện Mẫn)
htminhtam

CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH MINH TÂM

NGƯỜI CHA CỦA HỘI PHẬT GIÁO THẢO ĐƯỜNG

Nam mô A Di Đà Phật

Kính thưa quý Đạo hữu,

Người Cha và Người Thầy yêu quý của chúng ta đã đột ngột mãi mãi ra đi ... Ra đi để về Cõi Phật, tức là về Cực Lạc Quốc.

Tất cả anh chị em Phật tử trong Hội Phật Giáo rất đau buồn, vì đây là sự mất mát rất lớn, không có gì có thể bù đắp được.

Hôm nay, tôi xin phép quý Đạo hữu được nói lên vài lời về công đức lớn lao của Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm đối với Hội Phật Giáo Thảo Đường và đói với Phật tử Việt và Nga ở Moskva. Còn về công đức của Ngài đối với Phật Giáo châu Âu và thế giới thì chốc nữa Đạo Hữu Chúc Nghĩa sẽ đọc tiểu sử của Ngài cho mọi người được biết.

Thưa quý Đạo hữu,

Hòa Thượng Thích Minh Tâm là vị tăng sĩ Việt Nam đầu tiên đặt chân lên Đất nước Nga vào tháng 4 năm 1993, sau khi Liên Xô vừa tan rã.

Giáo sư Malkhanova Inna và nhà báo Nguyễn Minh Cần đã có phước lớn được gặp Ngài và được Ngài ân cần khuyên bảo về việc nên lập một tổ chức Phật Giáo ở Nga để giúp đỡ về mặt tâm linh cho bà con người Việt tha hương ở nước Nga.

Sau đó, cùng với cô Phùng Thúy Lan, cô Bùi Thị Lan Hương và nhiều anh chị em sinh viên, một vài doanh gia khác, chúng tôi đã vận động được nhiều người Việt và người Nga đến tham dự cuộc họp mặt đầu tiên để thành lập Hội Phật Giáo Thảo Đường ở Moskva vào ngày 4 tháng 6 năm 1993.

Trong bước đầu khó khăn, bỡ ngỡ của Hội, Hòa Thượng đã là vị Lãnh đạo Tinh thần thường xuyên giúp đỡ, hướng dẫn cho Hội hết sức chân tình. Mặc dù công việc Phật sự của toàn châu Âu và trên thế giới rất bề bộn, tháng 5 năm 1995, Ngài đã đến Moskva với bà con Phật tử ở Nga. Hồi đó, Hội còn rất nghèo, điều kiện đón tiếp rất kém cỏi nhưng Ngài chẳng chút nề hà vẫn hết lòng chia sẻ mọi khó khăn cùng bà con Phật tử chúng ta. Ngài đã đi thăm các «ốp» Việt Nam ở Moskva, giảng Pháp tại một Hội trường khu phố và tại Niệm Phật Đường Thảo Đường, làm lễ quy y Tam Bảo và truyền Ngũ giới cho nhiều Phật tử của Hội.

Sau lần đó, vì quá bận việc Phật sự, nên tháng 6 năm 1997 và tháng 10 năm 2011, Ngài đã hai lần cử người đệ tử thân thiết của Ngài là Ni Sư Thích Nữ Diệu Trạm thay mặt Ngài sang Nga giảng Pháp và truyền Ngũ giới cho các Phật tử quy y Tam Bảo.

Đến tháng 10 năm 2010, Hòa Thượng lại đến Nga lần thứ ba - và than ôi, có ai ngờ đó lại là lân cuối! – Ngài đến cùng với người đệ tử thân thiết của Ngài là Thượng Tọa Thích Quảng Đạo. Chắc hẳn anh chị em Phật tử chúng ta đã tận mắt chứng kiến tấm lòng chân tình, quý mến của Hòa Thượng đối với bà con Phật tử chúng ta, cũng như đức độ của một vị cao tăng hết lòng vì Đạo Pháp. Ngài rất quan tâm đến nền Phật Giáo ở Nga, thường căn dặn là Hội của chúng ta phải luôn luôn đoàn kết và kiên trì đi theo con đường Chánh Pháp. Trong những lần Thiện Xuân, Thiện Mẫn và nhiều anh chị em Phật tử Hội ta đến Paris, Lyon, Amiens, Marseilles ở Pháp, hoặc đến Anh tu học, Ngài và Hòa Thượng Thích Như Điển đã kêu gọi Phật tử các nước giúp đỡ cho Hội Phật Giáo Thảo Đường. Trước Khóa tu học Phật Pháp Âu châu kỳ thứ 25 tại Phần Lan, Ngài đã nhắc nhở Thiện Mẫn cần cử người đến tham dự khóa học và nhân dịp đó báo cáo tình hình của Hội và trình bản thiết kế ngôi chùa định xây dựng để các vị Lãnh đạo Tinh thần góp ý. Dù bận trăm công nghìn việc tại Khóa tu học ở Phần Lan, nhưng Ngài đã dành một tối tiếp Đạo hữu Tâm Diệu Hương Bùi Thị Lan Hương để nghe báo cáo, xem dự án thiết kế và cho những lời chỉ giáo quý báu. Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm và Hòa Thượng Thích Như Điển còn kêu gọi chư Tăng Ni và chư Phật tử tham dự Khóa tu học cúng dường một số tịnh tài đáng quý góp phần ủng hộ việc xây dựng chùa Thảo Đường. Có thể nói Đạo hữu Tâm Diệu Hương là người duy nhất của Hội ta có phước lớn được gặp Ngài trước khi Ngài an nhiên thị tịch tại Phần Lan để vãng sinh Cực Lạc Quốc, hội nhập Liên Trì Hải Hội.


HTMinh_Tam_Hoi_Thao_Duong

Hòa thượng Thích Minh Tâm (ngồi giữa),

Thượng Tọa Thích Minh Tuyên (ngồi bên phải Ngài) trong lần gặp đầu tiên tháng 4 năm 1993


Cố Hòa Thượng ra đi để lại muôn vàn nỗi nhớ thương cho anh chị em Phật tử chúng ta ở Nga! Hội Phật Giáo Thảo Đường của chúng ta đã mất một Người Cha, một Người Thầy vô cùng quý mến!

Chúng tôi mong rằng anh chị em Phật tử chúng ta sẽ ghi nhớ và thực hiện lời di huấn rất quý báu mà Cố Hòa Thượng đã để lại cho chúng ta trong bức thư lịch sử mà Ngài đã gửi cho bà con Phật tử ở Niệm Phật Đường Thảo Đường ngày 12/04/2012.

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tôn tứ thập tứ thế Liễu Quán Pháp Phái, khai sơn Khánh Anh Tự, húy thượng Nguyên hạ Cảnh, tự Viên Dung, hiệu Minh Tâm Giác Linh Hòa Thượng thùy từ chúng giám.

Thay mặt toàn thể Phật tử Hội Phật Giáo Thảo Đường,
Thiện Mẫn - Thiện Xuân kính lạy Giác Linh Cố Hòa Thượng.



nguyen-minh-can-60
Cáo Phó Tang Lễ Đh Thiện Mẫn Nguyễn Minh Cần

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2011(Xem: 7583)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7597)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8690)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7554)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8461)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17038)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8538)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).
30/07/2011(Xem: 9845)
Thế danh: Nguyễn Đình Mân, Pháp danh: Thị Uẩn, Pháp tự: Hạnh Đạo, Pháp hiệu: Thuần Phong, Đời thứ 42 thuộc dòng Thiền Lâm Tế.
28/07/2011(Xem: 8111)
Hòa Thượng Thích Đạt Hảo, Hòa thượng Thích Đạt Hảo thế danh Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sanh năm Đinh Tỵ (1917), tại ấp Bình Hữu, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Gia Định (1). Sư là con út trong gia đình có 6 anh chị em, 2 người trai bốn người gái; đặc biệt cả nhà có 8 người đều lần lượt xuất gia tu hành: -Phụ thân Lê Văn Bộn (1876- 1943), pháp danh Tánh Từ, pháp hiệu Đạt Bi. -Mẫu thân Ngô Thị Cờ (1884-1941), pháp danh Tánh Niệm, pháp hiệu Đạt Phật. -Chị thứ 2 Lê Thị Tình (1901-1970), pháp danh Tánh Hóa, pháp hiệu Đạt Đạo. -Chị thứ 3 Lê Thị Ưa (1904- ?) pháp danh Tánh Viên, pháp hiệu Đạt Thông. -Chị thứ 4: Lê Thị Luận (1907- ?), pháp danh Tánh Minh, pháp hiệu Đạt Quang. Chị thứ 5 Lê Thị Nghị (1909- ?), pháp danh Tánh Hồng, pháp hiệu Đạt Tâm -Anh thứ 6 Lê Văn Kỉnh (1915-1962), pháp danh Tánh Kỉnh, Pháp hiệu Đạt Xương. -Em út là Hòa thượng Thích Đạt Hảo.
15/07/2011(Xem: 9148)
Thiền sư húy thượng NGUYÊN hạ BÀNG - ĐẠI NGUYỆN tự CHÍ NĂNG hiệu GIÁC HOÀNG , thế danh LÊ BẢN, sinh năm Canh Dần 1950, tại thôn An Ngãi, xã Nhơn An huyện An Nhơn tỉnh Bình Định. Ngài sinh trong một gia đình nhiều đời sùng kính Tam Bảo. Thân phụ: Cụ ông LÊ TRÀ, thân mẫu: Cụ Bà TRẦN THỊ TÁM. Ngài là anh cả trong gia đình gồm có năm người con.