Lời Cảm Tạ & hình lễ tưởng niệm

23/02/201407:36(Xem: 13734)
Lời Cảm Tạ & hình lễ tưởng niệm

A_Di_Da_Phat_9


NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT

LỜI CẢM TẠ

Ngưỡng bạch chư tôn Hòa thượng chứng minh,

Kính bạch chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni,

Kính thưa quý bà con thân hữu gần xa,

Kính thưa liệt quý vị,

Cố thân phụ của gia đình hiếu quyến chúng con là Phật tử thọ Thập Thiện Giới pháp danh Nguyên Bửu, tự Thanh Châu, thế danh Nguyễn Ng,đã mãn duyên từ giã cảnh trần vào lúc 22 giờ ngày 27 tháng Chạp năm Quý Tỵ (nhằm ngày 27 tháng 1 năm 2014) tại tư gia ở Việt Nam, hưởng thọ 82 tuổi.

Tang lễ của thân phụ chúng con đã được tổ chức trang nghiêm trọng thể trong thời gian từ ngày 29 tháng Chạp năm Quý Tỵ đến ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Ngọ tại tư gia ở Sài Gòn và hậu đường chùa Quang Minh, phường Thủy Xuân, thành phố Huế.

Ngưỡng bạch ctôn Thiền Đức,

Kính thưa quý liệt vị,

Trong thời gian tổ chức Tang lễ, quý Ngài và quý liệt vị đã quang lâm chứng minh, hộ niệm, phúng viếng, gửi điện thư, điện hoa, cử các vị đại diện đến phân ưu, tạo nhiều điều kiện thuận lợi, hết lòng hỗ trợ mọi mặt, trực tiếp giúp đỡ cho tang gia hiếu quyến chúng con tổ chức tang lễ, nhờ đó mà chương trình tang lễ được tiến hành trang nghiêm trọng thể và thành tựu viên mãn.

Trước lượng từ bi cao cả và với tất cả những đạo tình thắm thiết mà chư tôn Thiền Đức và liệt quý vị đã dành cho cố thân phụ cũng như tang gia hiếu quyến chúng con, toàn thể tang gia hiếu quyến chúng con xin tạc dạ ghi lòng, thành kính cúi đầu đảnh lễ niệm ơn, cảm tạ.

Thành kính cầu nguyện mười phương chư Phật gia hộ Chư Tôn Thiền Đức pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ; Cầu chúc toàn thể liệt quý vị thân tâm an lạc, vạn sự cát tường.

Ngưỡng bạch chư Tôn Thiền Đức,

Kính thưa quý liệt vị,

Trong quá trình tổ chức tang lễ, vì quá đau buồn, lại thêm bối rối, chắc chắn có nhiều thiếu sót xảy ra, kính xin chư tôn Thiền Đức và quý liệt vị niệm tình hoan hỷ và lượng thứ cho gia đình hiếu quyến chúng con.

NAM MÔ THƯỜNG HOAN HỶ BỒ TÁT MA HA TÁT.


Hình ảnh Lễ Tưởng Niệm

le tuong niemnguyenngu (8)

le tuong niemnguyenngu (11)

le tuong niemnguyenngu (41)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10314)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10107)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12886)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8725)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14768)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8454)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8940)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10127)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8813)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14487)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.