Cảm niệm Ân Sư (T. Tịnh Phước)

19/11/201308:00(Xem: 20958)
Cảm niệm Ân Sư (T. Tịnh Phước)
Le_Bach_Nhat_On_Minh_Tam (1)



Cảm Niệm Ân Sư



Kính bạch chư tôn Hòa thượng, chư Thượng tọa, chư Ni trưởng, Ni sư, chư tôn Đại đức tăng, Đại đức ni!
Kính thưa quý thiện hữu, nhân sĩ trí thức.
Chỉ còn vài giờ đồng hồ nữa thôi là huyễn thân tứ đại của Thầy chúng con sẽ chỉ còn ” ray rứt bụi tro bay ”! Trong khoảnh khắc ngắn ngủi còn lại này, xin phép quý Ngài cho chúng con có vài lời hoài niệm về Thầy của chúng con!



Kính bạch Giác linh Thầy!
Than Ôi!
Nhà thiền Khánh Anh từ đây vắng bóng
Giáo hội Âu châu mãi mãi bặt âm.
Đèn thiền xao gió.
Trăng giới lờ mây!
Nét bước tượng vương nơi cửa Pháp, trước mắt mơ màng;
Tiếng kêu sư tử lối rừng Thìền, bên tai văng vẳng.
Chúng con dẫu biết, sắc tướng huyễn hư, sương mai, điện chớp, cây bờ, mộng mị;
Nhưng ngặt vì nỗi, Thầy trò nghĩa nặng, dù trời Tứ không mà vẫn còn khóc cảnh Song lâm!
Đức hạnh của Thầy:
Gương sáng trong ngần, sóng tình lặn bặt
Sớm rời cửa tục, xuất gia thuở tuổi còn xanh.
Sâu tỏ màu thiền, giảng sư, Hiệu trưởng khi vừa Cụ túc.
Xuất dương du học, phát túc siêu phương
Âu châu hoằng pháp, chấn nhiếp ma quân.
Buộc ràng sáu ngựa, chơi nhởi ba xe
Trăm nét vuông tròn, một niềm trong sạch
Mảnh chơn tướng dễ lờ nước thủy,
Điểm không hoa chẳng dính bụi trần.
Chúng con mừng cho thân phận chúng con
May đặng gặp Thầy, theo mà học đạo
Trừ tội chướng một dao xuống tóc
Phủ phước điền ba lớp truyền y.
Đạo đức say sưa, Thầy trò hủ hỉ
Lý kinh, nghĩa luật,
Giọng pháp âm hằng bữa lọt vào tai.
Đức của Thầy như thế.
Danh của Thầy như thế.
Cũng ngỡ rằng:
Cái gót tùy duyên chưa vội trở,
Bánh xe cửu trụ hãy còn ngừng,
Nào hay đâu:
Gậy tích xa bay,
Đường huyền sớm tách,
Chiếc dép hữu tình rơi lại đó
Con thuyền vô để ngự đi đâu?
Có lẽ giờ này.
Chín phẩm sen vàng, Thầy an vui trên miền thất bảo
Một vành trăng bạc, trò ngẩn ngơ vừa lúc tam đông!
Cảnh tình này, sâu dài tưởng ngắn.
Ôi, thôi thôi!
Tấm áo ca sa sương lạnh ngắt
Cành hoa Bát nhã gió buồn thiu!
Khi nào, Thầy thăng tọa, trò niêm chùy, lắm lúc sum vầy nơi pháp hội.
Bây giờ: trò Ta bà, Thầy Cực lạc, xiết bao sùi sụt suy tư!
Ôi thôi! sữa pháp mất rồi,
Lòng con đói mãi.
Biết cậy ai, ngày la đêm nhắc
Biết nương ai, sớm dắt tối dìu
Biết hỏi ai mở trí nguyên thần,
Biết nhờ ai nuôi thân huệ mạng?
Lơ láo một mình nơi tha hương
Đớn đau buồn vì sự mất cha
Đi về ngàn dặm lối tha phương
Thẩn thơ nghĩa, mong chừng gặp mẹ.
Phận con ngậm ngùi nhớ mãi
Duyên gặp Thầy trong khóa tu học Phật pháp Khánh Anh lần thứ hai
Ai ngờ đâu mùi thiền xông ướp, một bước xuất gia, lạy Thầy tế độ
Đấng phụ thân có lần tỏ lộ thiên cơ
Rằng bổn sư con vốn cốt cách xuất trần Đại sĩ
Con còn nhớ:
Năm mười ba tuổi lạy Đức Quán Âm xin làm đệ tử
Khi xuất gia, phụ thân mộng thấy Quán Âm đến nhà.
Ba năm làm Sa-di biết bao chướng duyên ngăn trở
Vẫn một lòng đảnh lễ Quán Thế Âm,
Thầy liền đến ban vài lời pháp nhũ
Mọi chướng duyên ngăn trở đều tiêu tan.
Rồi trên đường hoằng pháp mở mang
Dẫu khó khăn, sóng gió muôn vàn
Nhưng hễ làm việc gì mà Thầy hoan hỷ
Thì y như rằng sóng gió bặt tăm.
Kính lạy giác linh Thầy!
Tận trong sâu thẳm tâm con
Thầy là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm!
Giờ này,
Hương ngũ phần ba cây
Nước bát công một chén.
Cơm hương tích dám khoe mùi thượng vị,
Rau Tào khê kính biếu dạ thâm tình
Trước đài sen ngước mặt dâng lên,
Dưới chiếu cỏ cúi đầu lạy xuống.
Xin thầy chứng giám,
Cho chút lòng con
Một bức ai văn
Hòa nam bái bạch!
Kính lạy giác linh Thầy!


Thích Tịnh Phước thay lời chúng xuất gia, đọc trước kim quan Hòa Thượng Bổn Sư Thích Minh Tâm vào đêm 20 tháng 8 năm 2013 nhằm ngày 14 tháng 7 âm lịch năm Qúy Tỵ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/12/2013(Xem: 16742)
Từ Tam Kỳ tôi về lại Đà Nẵng năm 1965 để hầu ôn Phổ Thiên và tiếp tục đi học tại trường trung học Phan Châu Trinh. Ôn cư ngụ tại Chùa Diệu Pháp, nhưng thường xuyên sinh hoạt tại Chùa Phổ Đà. Hai chùa cách nhau năm bảy căn nhà
01/12/2013(Xem: 9384)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh (1) đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật. Ngày xuất gia năm 12 tuổi ở chùa làng. Ðến năm 19 tuổi, được Hòa thượng Giải Tường chùa Phước Sơn thế độ làm đệ tử và học tại đây. Năm 22 tuổi Ngài thọ Cụ Túc giới và giữ chức thư ký trong chùa.
27/11/2013(Xem: 13632)
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm thế danh là Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân Hợi (1911) tại Thôn Chánh Lộc, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên. Thân phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Tham. Ngài là người con thứ hai trong gia đình có năm anh chị em. Gia đình Ngài là một gia đình có truyền thống nhiều đời uy tín Tam Bảo.
10/11/2013(Xem: 63123)
9780975783085, Cách phi trường quốc tế Melbourne 15 phút lái xe, theo Western Ring Road và exit vào Hume High Way, sau đó quẹo trái từ đường Sydney road, đi vào con đường Lynch thân thương, khách hành hương sẽ nhìn thấy một quần thể kiến trúc nổi bật trong vùng cư dân này, đó là Bảo Tháp Tứ Ân và cổ lầu của chánh điện Tu Viện Quảng Đức, tọa lạc tại số 105 Lynch Road, vùng Fawkner
21/10/2013(Xem: 13469)
Suốt thời gian nhập thất là 3 năm, tuy ăn uống đạm bạc nhưng nhờ sức chuyên tu bệnh tật của thầy cũng được tiêu trừ và trí tuệ khai minh, nguồn tâm sáng tỏ. Khoảng thời gian này, nhiều tác phẩm KINH – LUẬT – LUẬN được thầy dịch thuật và chú giải từ bản Hán văn sang Việt văn như: kinh Phổ Môn, kinh Di Đà, kinh Địa Tạng, kinh Pháp Hoa, kinh Hồng Danh, kinh Thập Ác Báo - Thập Thiện Nghiệp, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Địa Tạng Chiêm Sát, kinh Trường Thọ Diệt Tội, kinh Đại Thừa Công Đức Tạo Tượng Phật, kinh Khiệp Bảo Ấn Đà La Ni, kinh Bồ Tát Thiện Giới, kinh Văn Thù Vấn Phật, Phật Học Giáo Khoa Thư, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Hạnh Nghi Người Tu Học Phật …
19/10/2013(Xem: 9788)
Trưởng Lão Hòa Thượng thế danh Tôn Thất Thuế, sinh năm 1924 tại thôn Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngài thuộc dòng dõi hoàng gia Đệ cửu hệ, Tứ phòng. Phụ thân là Cụ ông Tôn Thất Tích, pháp danh Nguyên Phước, mẫu thân là Cụ bà Phan Thị Cưỡng, pháp danh Nguyên Thâm, đều là những nông dân hiền lương, chất phác. Ngài có tất cả năm anh chị em, hai trai, ba gái. Hiện tại, một gái đã mất, còn Ngài và hai em gái đều theo Phật xuất gia. Hai thân Ngài đều đã khuất núi.
15/10/2013(Xem: 31470)
(Báo Viên Giác, Số 197, tháng 10-2013, Số Đặc Biệt tưởng niệm Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
10/10/2013(Xem: 21998)
Phạm Thiên Thư, Phạm Công Thiện, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, Phạm thế Mỹ, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Trí Hải...
06/10/2013(Xem: 86500)
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này