HT Thích Tuệ Hải (1927-2011)

07/10/201317:15(Xem: 17368)
HT Thích Tuệ Hải (1927-2011)


ChuaKimLien_HTTueHai

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ HẢI

1- Thân thế

Hòa thượng thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 45. Pháp danh: Quảng Đại, Pháp hiệu Ấn tạng, Pháp tự Tuệ Hải, thế danh là Hồ Văn Đạo. Thân phụ là ông Hồ Văn Đạt – một danh nho trong làng. Thân mẫu là cụ bà Trương Thị Nhâm – Pháp danh Nguyên Ngọc. Ngài khánh sanh vào tháng giêng năm Mậu Thìn – 1927 tại làng Thanh Lương, xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Định. Ngài là con trai út trong gia đình có truyền thống thuần thành kính tin Phật pháp.

Do đó, trong gia tộc có những vị gọi Hòa Thượng là chú, là cậu, hiện nay cũng là giáo phẩm Phật giáo đang phục vụ đạo pháp trong và ngoài nước.

2- Xuất gia học đạo

Cũng nhờ phước duyên tiền kiếp và sống trong nếp sống truyền thống Phật giáo của gia đình nên Phật chủng được gieo trồng và nuôi dưỡng tốt tươi.

Sau khi học hết chương trình tiểu học, vào ngày 12/7 năm Ất Dậu – 1945. Hòa Thượng đã xin phép cha mẹ đi xuất gia với Hòa Thượng Thích Minh Chơn – Trụ trì chùa Từ Quang. Lúc này Hòa Thượng vừa tròn 17 tuổi.

Sau khi xuất gia, Ngài đã chuyên tâm tu học và nghiên cứu để rèn luyện ý chí của một vị xuất trần thượng sĩ.

Năm Đinh Hợi và Mậu Tý – 1947 – 1948 Hòa Thượng được Bổn Sư cho ra tu học với Hòa Thượng Thích Bảo Hiền tại Tổ đình Trùng Khánh – tỉnh Ninh Thuận.

Năm Kỷ Sửu – 1949 Ngài được Hòa Thượng Thích Bảo Hiền cho ra tu học tại Phật học Đường Phan Rang. Do Hòa Thượng Thích Trí Thắng trụ trì Tổ đình Thiên Hưng làm Giám đốc.

Đến năm Tân Mão – 1951 vì chiến cuộc ác liệt áp sát vào thị xã Phan Rang cũng như đời sống kinh tế đang khó khăn nên trường giải tán. Vì thế Hòa Thượng trở về chùa Từ Quang tiếp tục tu học và thọ Phương Trượng Sa Di lúc Ngài 23 tuổi. Nên có Pháp tự là Tuệ Hải.

Nhờ phúc duyên sẵn có nên năm Nhâm Thìn – 1952, Hòa Thượng được Bổn Sư đưa ra nhập học ở Phật học đường Trung Phần Hải Đức tại Nha Trang do Tổng Hội Phật Học Trung Phần đào tạo được chư tôn đại đức Thích Trí Thắng, Thích Thiện Minh làm Giám đốc cùng với Ban Giáo thọ có các Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Hòa Thượng Thích Định Tuệ, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Viên Giác, Hòa Thượng Thích Từ Mãn, Hòa Thượng Thích Tra Am trực tiếp đào tạo.

Năm Bính Thân 1956, sau 04 năm Trung cấp. Nhận thấy Ngài có thể làm Pháp khí trong Phật pháp nên bổn sư cho thọ Giới Tỳ Kheo tại Đại Giới Đàn lần đầu tiên được khai mở để kỷ niệm ngày Thành Đạo – 08 tháng Chạp do Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, kiêm Hội Trưởng Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần làm Đàn Đầu Đại Giới Đàn này và Hàng Thập Sư do Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa gồm ba Miền Trung, Nam, Bắc thỉnh cử. Trong thời gian này Ngài đương là giảng sư của tỉnh Khánh Hòa, nên được miễn khảo hạch cùng một số học tăng do Phật học viện đào tạo.

3- Hoằng Dương Đạo Pháp

Mặc dù còn đang tiếp tục học tập và đào tạo nhưng với nhu cầu Phật sự tại các tỉnh thành đến hạ tầng cơ sở sau nhiều năm đình trệ vì chiến cuộc tiếp diễn, nên chủ trương của hai Tổng Trị sự Phật giáo Trung Phần phải vừa học vừa phải thừa hành công tác Phật sự chỉnh đốn hạ tầng về tổ chức hai mặt là tôn giáo tính và đoàn thể tính theo các tiêu chí sau đây:

1- Giáo dục kĩ thuật lãnh đạo cho các Ban trị sự.

2- Nuôi dưỡng ý chí phục vụ đạo pháp.

3- Khai thác kinh nghiệm công tác tại tỉnh hội.

4- Ý thức đầy đủ trách nhiệm hoằng pháp của Giảng sư đoàn.

5- Đề cao thành tích hoạt động các cấp Giáo Hội.

Hòa Thượng đã từng là Trưởng phái đoàn đại diện tổng trị sự trong các chuyến hoằng pháp tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Ban Mê Thuộc, Phú Yên, Quảng Ngãi.

Tháng 2 năm Đinh Dậu – 1957, Ngài được Hòa Thượng Chánh Hội Trưởng Thích Thiện Minh đại diện Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần đề cử Giảng sư kiêm trụ trì và Hội trưởng chi hội đầu tiên tại Diên Khánh và kiêm nhiệm giảng sư phụ trách cả tỉnh từ Tu Bông – Vạn Giả - Ninh Hòa và Cam Ranh.

Ngoài ra Hòa Thượng được Giáo Hội Tăng Già thỉnh cử vai trò như thư ký Giáo Hội cuối thời Hòa Thượng Thích Hưng Từ làm Trị Sự Trưởng tỉnh Khánh Hòa hai nhiệm kỳ vào năm 1958 – 1961.

- Năm Tân Sửu 1962, Hòa Thượng được Tổng trị sự Trung Phần bổ nhiệm làm giảng sư, kiêm chánh đại diện Tỉnh Hội Phật Giáo Quảng Trị, thay thế Thượng tọa Thích Đức Minh theo văn thư số 311.TTS.PGTP đề ngày 14/3/1962.

- Năm Giáp Thìn 1964, Hòa Thượng lại được Viện Hóa Đạo GHPGVNTN lưu chuyển vào làm Trụ trì kiêm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Lâm Đồng, đồng thời làm Giám đốc Trung Tiểu Học trường Bồ Đề tại thị xã Bảo Lộc.

- Năm Mậu thân 1968, Hòa Thượng xin nghỉ việc và từ đó mới có thời gian về xây dựng chánh thức Ngôi Kim Liên Bửu Tự này. Mặc dù không còn công tác Phật Sự xa xôi nữa nhưng Hòa Thượng vẫn được Giáo Hội mời tham gia Phó Đặc Ủy Tăng Sự tỉnh Khánh Hòa và cố vấn cho Ban Đại diện GHPGVNTNDK từ năm 1971 – 1981.

4- Khai Hóa Kim Liên Bửu Tự

- Y cứ theo lời dạy của Ngài Ngộ Đạt Sự “Rằng chúng ta muốn báo ân Như Lai trong thời này thì phải dõng mãnh tinh tấn, chịu cực nhọc không tiếc thân mạng để kiến lập ngôi Tam Bảo, truyền bá Phật pháp, hóa độ chúng sanh đồng vào chánh giác”.

Do vậy, từ năm 1962, Hòa Thượng xây dựng một tịnh thất nhỏ nhằm để nghiên cứu phật pháp và an dưỡng sau những tháng ngày công tác diễn giảng và Phật sự tại các tỉnh giáo hội trở về nghỉ dưỡng thời gian, một, hai tháng rồi đi lại.

- Đến năm 1968, Hòa Thượng mới xin phép Giáo hội để được nghỉ và bắt đầu xây cất chánh điện ngôi Kim Liên Bửu Tự và nhà tăng.

Do Hòa Thượng Chánh đại diện Thích Trí Nghiêm ký ngày 12/7/1968 và xây dựng đến năm 1970 mới tạm hoàn thành.

Trải qua bao gian khó Hòa Thượng vẫn luôn luôn giáo huấn, hướng dẫn sách tấn hàng phật tử xuất gia cũng như tại gia phải siêng năng tu học giữ vững đạo tâm cố gắng làm tốt đời đẹp đạo để không hổ danh là người con phật.

ChuaKimLien_1
ChuaKimLien_2

5- Viên Tịch

Than ôi! Cuộc đời như quán trọ, đến rồi đi như đại mộng thoáng qua. Trong lúc Phật sự đang hanh thông, duyên độ sanh đang thênh thang rộng mở. Sức khỏe của Ngài đang tốt. Nhưng vô thường nào có hẹn với ai.

Sau chuyến đi dự lễ khánh thành một ngôi chùa tại Thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng căn bệnh tai biến bất ngờ ập đến, khiến Người nằm đó như xa xôi diệu vời. Mặc dầu được các y bác sĩ tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, Bệnh viện Chợ rẫy, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa tận tình giúp đỡ nhưng vì tuổi già sức yếu nên Ngài không thể vượt qua.

Đa đoan Phật sự một đời

Buông tay thuận thế vạn lời vô ngôn

Người về khai sáng Thiền môn

Người đi dấu tích còn tồn Tông phong

Vai trò sứ giả Như Lai của Ngài rồi cũng thuận theo đường sanh trụ dị diệt để trở về với cõi vô sanh.

Ngài đã an nhiên thị tịch vào lúc 9 giờ 45 ngày 30/4 năm Tân Mão, nhằm ngày 1/6/2011. Trụ thế 84 tuổi đời, 54 tuổi đạo.

Đạo pháp từ đây vắng đi một người hoàng hóa, tứ chúng môn nhơn vắng một vị thầy khả kính thân thương.

Chùa Kim Liên lặng thầm bao tiếc nhớ

Chốn thiền môn một thuở dấu chân người.

NAM MÔ TÂN VIÊN TỊCH, KHAI SƠN KIM LIÊN BỬU TỰ TỪ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NGŨ THẾ, THƯỢNG QUẢNG HẠ ĐẠI TỰ TUỆ HẢI HIỆU ẤN TẠNG HÒA THƯỢNG CHI GIÁC LINH.

( Hiện tại Đại đức Thích Nhuận Thành -trụ trì, kế thừa Chùa Kim Liên Bửu Tự, thôn Đông Dinh, xã Diên Toàn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa). Điện thoại: 0905.124.122

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/07/2014(Xem: 10259)
Con đang ở lại trần gian trong bầu không khí Đạo pháp hơn 2000 năm. Nhưng kinh sách thiên vạn quyển cũng không bằng được sống bên bậc danh Tăng thạc đức trong ngôi nhà Vạn Hạnh. Tình thương yêu của Ôn luôn tưới tẩm và lan tỏa trong toàn thân con mỗi ngày khi được sống bên Ôn.
24/07/2014(Xem: 18369)
Mới đó mà một năm sắp trôi qua và hai năm cũng sẽ đến ngày viên tịch của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Viện Chủ chùa Khánh Anh kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Giáo Hội Âu Châu mong mỏi thực hiện một Kỷ Yếu nhân lễ Đại Tường (2015) nên đã giao phần gom góp và biên tập bài vở cũng như trang trí quyển Kỷ Yếu nầy cho Hòa Thượng Thích Như Điển (Đức), Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ) và Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng (Úc Châu) thực hiện. Lâu nay chúng ta đã có một số bài tiêu biểu đã được đăng trên các trang nhà như : quangduc.com, viengiac.de, hoavouu.com và một số trang nhà khác.
22/07/2014(Xem: 41104)
Ngôi tu viện Phật giáo vùng Tây Bắc của tiểu bang Victoria được Thượng tọa Thích Tâm Phương khai sơn từ năm 1990. Ban đầu tu viện tọa lạc ở vùng Broadmeadows. Đến năm 1995, tu viện vận động mua lại ngôi trường tiểu học Fawkner cũ có diện tích 8.000 m2 và xây dựng thành ngôi phạm vũ trang nghiêm mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức từ năm 1997 đến năm 2003. Công trình xây dựng do kiến trúc sư Nguyễn Kiển Thành thiết kế, kiến lập theo kiểu chữ “Công” mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông. Đại lễ khánh thành được tu viện tổ chức trọng thể vào các ngày 10, 11 và 12-10-2003. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm thờ tôn tượng đồng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng cao 2,50m, nặng khoảng 1,5 tấn. Phía trước và hai bên, tu viện đặt thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp Già Lam. Đến năm 2008, tu viện xây Tăng xá và Bảo tháp Tứ Ân. Bảo tháp 4 tầng, cao 14m, rộng 5m, trên nóc tôn trí tượng đức Phật A Di Đà cao 1,2m. Trong bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Phật, tượng chư Phật, Bồ tát và linh cốt của Phật tử q
12/07/2014(Xem: 10688)
Thời gian mãi trôi qua, không gian chưa bao giờ ngừng sự chuyển động và con người cũng phải già thêm, vì không thể cưỡng lại định luật vô thường vốn tự có. Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế Ngài hay dạy cho các vị đệ tử rằng: Phàm những gì có hình tướng thì tất cả đều bị chi phối bởi sự vô thường, mà đã vô thường thì nguyên nhân chính của nó là khổ, nhưng thật ra cái khổ nó cũng không có thật tướng, vì bản thể của mọi hiện tượng đều là không. Sở dĩ có, vì có ái và thủ chấp hữu, nên mới có những tướng sanh diệt. Khi nào không duyên vào bất cứ một hiện tượng hay hình thức nào bên ngoài, thì lúc ấy chúng ta sẽ chứng được thực tướng của Niết Bàn vô sanh vô diệt.
05/07/2014(Xem: 8664)
Hôm nay, dẫu Ni trưởng Thích nữ Viên Minh duyên trần đã mãn nhưng tâm hạnh và sự nghiệp tu tập của Người mãi là kho tàng vô giá, là ngọn Hải đăng cho Ni chúng Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung đồng tôn ngưỡng hướng về. Ni trưởng thế danh Nguyễn Thị Khiêm Tốn, húy thượng Tâm hạ Huệ, tự Viên Minh, hiệu Trí Uyên, sinh năm Giáp Dần (1914) tại thôn Động Giả, xã Đỗ Động, huyện Thanh Oai, Hà Nội (tức tỉnh Hà Đông).
01/07/2014(Xem: 11516)
Ni sư Thích nữ Hải Triều Hạnh, Pháp Hiệu Hoằng Hạnh, Tự Liễu Như, thế danh Trần Duy Hạnh. Sinh năm Ất Mùi 1955 tại Gia Định sài gòn. Ni Sư sinh trưởng trong 1 gia đình gia giáo. Thân phụ là cụ ông Trần Duy Ninh PD: Hoằng Ninh, vốn là em kết nghĩa của Thầy Hải Triều Âm là một y sĩ cùng làm chung một sở y tế với Thầy, khi Thầy chưa xuất gia cụ ông luôn theo Thầy làm trưởng đoàn công tác từ thiện xã hội và Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Hoa Truật, pháp danh Mỹ Dung, sau Hòa Thượng Pháp Chủ đổi tên là Cát Tường vốn là vị hộ pháp thân tín trong thời gian Thầy xuất gia, nhập thất và suốt chặng đường hoằng Pháp của Thầy.
30/06/2014(Xem: 15909)
Video: Hòa Thượng Thích Huyền Quang Một Đời Thao Thức
19/06/2014(Xem: 21463)
Hoài bảo một "CÁI MỘNG" trên 25 năm mới hoàn toàn thực hiện Trong lúc du học ở Xuân Kinh(1938), đến mùa hè năm 1941, tôi được dịp may dự thính lớp Giáo Lý của Đoàn Thanh Niên Dục Đức, trong một tháng (mỗi đêm giảng 2 giờ) , do Bác sĩ Lê Đình Thám đảm trách (lớp này hiện nay còn Thượng Toạ Thích Minh Châu và Đạo hữu Võ Đình Cường v.v...) Tôi thích thú quá! Vì thấy bác sĩ đem phương pháp giảng giải của Tây phương mà giải thích, trình bày một triết lý cao siêu của Đông phương. Sự phối hợp cả Âu và Á làm cho người nghe rất thích thú vì hiểu được rằng triết lý cao siêu của Đông phương qua phương pháp trình bày rõ ràng rành mạch của Tây phương. Từ đó tôi hoài bảo một cái mộng: "làm sao, sau này mình sẽ đóng một cây thang giáo lý" (tức là bộ "Phật Học Phổ Thông", ngày hôm nay).
16/06/2014(Xem: 49798)
Ngày ấy cách đây 50 năm về trước, vào một sáng đầu mùa hè của năm 1964, tôi một mình đạp xe đạp từ làng Mỹ Hạc, Xã Xuyên Mỹ, Quận Duy Xuyên, trực chỉ xuống chùa Viên Giác tọa lạc tại Hội An, Quảng Nam. Hôm đó là ngày Rằm Tháng 5 âm lịch của năm Giáp Thìn. Một chặng đường dài 50 năm như vậy, nói cho đúng là nửa thế kỷ của một kiếp nhân sinh- đã, đương và sẽ có nhiều điều đáng nói. Hay có, dở có, không như ý cũng có