Cho để con tu cứu đời (T.Nguyên Chánh)

23/09/201314:56(Xem: 13099)
Cho để con tu cứu đời (T.Nguyên Chánh)

HT Thich Chi Tin


CHO ĐỂ CON TU CỨU ĐỜI

Ôn trụ trì- gọi thế là đủ để nói hết một con người, không cần nói thêm gì nữa mà tất cả ai, đã sống và đang sống tại thành phố Nha trang cho đến thời điểm này, đều biết về Ôn- Trưởng lão Hoà Thượng Thích Chí Tín, trụ trì sắc tứ Long Sơn tự- tp Nha trang- tỉnh Khánh Hoà- thường quen gọi trong tâm thức mọi người- Chùa Tỉnh Hội.

Sau 1975- một chiếc xe đạp củ kỹ đi khắp các chùa chiền trong thành phố Nha trang, để nhắc nhỡ, sách tấn tinh thần của Tăng Ni làm Phật sự, động viên Phật tử tu học, đó là hình ảnh quen thuộc. Sau yên xe đạp một bó rau muống được cột chặt Ôn mua ở Chợ đầm vào mỗi buổi sáng, để về nấu ăn cho Tăng chúng, đó là hình ảnh thường ngày. Bệnh nhân ở bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh hoà, và các trạm xá, các bác sĩ, y tá, nhân viên gác cổng qua nhiều thế hệ, ai lại không quen thấy hình ảnh Ôn, một tu sĩ với chiếc áo dài nâu bạt màu, vai mang, tay xách nhiều thứ, trái cây, sữa, đường, bánh và tiền tự đi mỗi phòng gửi bệnh nhân, an ủi họ trong lúc đau bịnh, đó cũng là hình ảnh quá quen thuộc của Ôn trong suốt bao nhiêu năm, Ôn có mặt tại Nha trang và ít nhất gần 35 năm tôi được biết Ôn. Có thể nói, thời gian miệt mài như thế, và hành động của Ôn cứ kiên trì như thế, cuộc đời của Ôn thể hiện một hình ảnh như thế, đâu cần nói nhiều, vậy mà bao nhiêu thế hệ người tu đi qua, chắc khó tìm được ai hơn thế.

Ông Nội tôi chết, rồi Ông Ngoại tôi mất, kế đến Mẹ tôi qua đời, không một lời thỉnh cầu của gia đình, không cần phải thưa thỉnh, cung đón rình rang, cứ thế cách khoảng trong nhiều năm, Ôn lặng lẽ quang lâm nhiều tư gia, đốt hương, tụng kinh cầu nguyện và chia buồn với gia đình, cách tâm ấy, sự quan tâm ấy, tình người ấy, đã để lại quá nhiều cung bậc kính trọng đối với Ôn, trong tâm thức của người Phật tử và không phải Phật tử khi họ có mặt để tham dự rất nhiều lễ tang diễn ra tại thành phố Nha trang.

Bao nhiêu lễ hội của các chùa chiền trong thành phố Nha trang diễn ra, từ lễ nhỏ đến lễ lớn, Ôn không bao giờ tham dự, thế mà mọi thứ Ôn đều biết rất rõ, cặn kẻ, và có lời khích lệ chân thành, như là công việc của chính ôn, tính khiêm nhường, không câu nệ hình tướng của một bậc xuất sĩ, cao Tăng là thế đó. Ngày chùa chúng tôi khởi công xây dựng, khánh thành đều có sự gia tâm của Ôn. Ôn gửi tiền cúng dường không là bao nhưng đó là sự quan tâm, lời động viên quý giá vô bờ bến mà Thầy tổ của chúng tôi, bao thế hệ huynh đệ, Phật tử tại chùa, không ai không nhớ đến ân tình của Ôn, người đã nặng lòng với tương lai của đạo pháp, tiếp trợ hậu lai là thế đó. Thật không biết, bao nhiêu hình ảnh xuất lộ từ hạnh nguyện quảng đại của Ôn, ngang qua một con người bình dị, mộc mạc, chân chất đậm đạo tình, đã để lại cho nhân thế một bài học vô cùng quý giá, dễ nhưng thật khó hành.

Nhớ lại, năm 1986 tôi có chuyến theo hầu thầy Bổn Sư đi ra thăm cố đô Huế, sự tình cờ, Thầy trò chúng tôi gặp Ôn đi theo đoàn hành hương ghé thăm Tổ đình Từ Đàm. Cũng chiếc nón lá củ kỹ, áo nâu Ôn mặc phơi bạc theo năm tháng, trên vai mang một túi vãi, hình ảnh như một Bố Đại Hoà Thượng. Chúng tôi đến vái lễ Ôn, Ôn lặng lẽ lấy từ trong túi ra, không cần biết là bao nhiêu tiền, Ôn cho tôi. Tôi nhận và cám ơn Ôn. Trưa ngày hôm đó, chúng tôi đến Tổ đình Từ Hiếu, tình cờ gặp lại đoàn của Ôn cũng đến thăm Từ Hiếu, tôi vái lạy Ôn, lần nữa thói quen đó, Ôn lại lấy tiền từ trong túi vãi ra, cho tôi nữa. Tôi cũng không dám nói gì, lặng lẽ nhận và cám ơn Ôn. Chiều hôm đó, chúng tôi lên Tổ đình Trúc Lâm, lại gặp Ôn cũng ghé Trúc Lâm, tôi lại vái lễ chào Ôn. Cũng thói quen đó, Ôn thò tay vào túi vãi và lấy tiền ra cho tôi thêm nữa. Lần này, thì tôi mạnh dạn thưa Ôn, sao Ôn cho con tiền hoài vậy, sáng giờ con nhận của Ôn hai lần rồi. Ôn nghe tôi nói xong, không cười vẫn thản nhiên Ôn nói: “ Cho để con tu rồi cứu đời”. Kính lạy Ôn! Giá trị số tiền Ôn cho con không là bao nhiêu, lời dạy của Ôn rất ngắn, nhưng đã cho con một hành trang vô tận, lời dạy ấy đã đi theo con suốt chiều dài con lớn, và ẩn nấu trong tâm thức của con, và dỏi theo con trên bước đường con đi. Lời dạy của Ôn cho con, vẫn còn đang sáng rực, chiếu soi những bước chân của con TU ĐỂ CỨU ĐỜI. Tu để cứu đời, phải chăng là bản thể của người xuất gia, là hạnh nguyện rộng lớn của Ôn hiện hữu giữa trần thế. Ôi! Mộc mạc không văn hoa lời lẽ, chân thành không câu nệ hình thanh, thế mà cuộc đời Ôn đã chuyển tải hết màu sắc đạo hạnh, phẩm chất thanh cao của người tu Phật là thế đó, thế gian trôi nỗi, bao nhiêu hình thanh, tướng trạng sẽ bị chôn vùi, còn lại chăng đạo tình và hạnh trạng cứu đời, chứa đầy tâm nguyện vô biên, phục vụ chúng sanh chính là cúng dường chư Phật.

Hôm nay, tại thành phố San Diego, Hoà thượng Thích Nguyên Siêu một đệ tử của Ôn đã thiết lễ truy niệm, phục tang, hầu xưng tụng công hạnh cao cả của một bậc thầy khả kính của tầng tầng lớp lớp đệ tử tại gia, trong cũng như ngoài nước, có mặt trên khắp nẽo đường, quy hướng về chùa Phật Đà, thắp một nén hương tâm, nhớ tưởng một bậc xuất trần, long tượng của chốn thiền môn, đã thanh thản nhẹ gót ra đi, để lại vô vàn niềm kính tiếc.

Ôi! Một ngôi sao sáng giữa bầu trời rộng lớn, đã rơi rụng trong chốn u minh, thức tỉnh biết bao con người. Một tâm hạnh cao cả thênh thang đã một thời ôm ấp bảo bọc quần sanh như biển dài vô tận làm sáng đẹp cuộc đời.

Con xin nhiếp tâm hướng về Sắc tứ Long Sơn Tự thành kính đảnh lễ Giác Linh Ôn, cầu nguyện giác linh Ôn cao đăng Phật quốc, sớm hồi nhập Ta bà, cứu độ quần sanh.

Kính bái,

Thích tử Nguyên Chánh



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 14330)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8254)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8423)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 9661)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8640)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14378)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
09/04/2013(Xem: 11453)
Hòa thượng húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 7-8 năm Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Quy (sau đổi tên là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Trà Vinh). Hòa thượng là con út (thứ chín) trong gia đình. Thân phụ Hòa thượng huý Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, thân mẫu húy Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh. Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y với tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu Đốc. Pháp danh Thiện Hoa do Tổ đặt cho Hòa thượng.
09/04/2013(Xem: 16669)
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh năm Canh Thân, ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
09/04/2013(Xem: 8822)
Hòa Thượng THÍCH BẢO AN, húy thượng THỊ hạ HUỆ tự HẠNH GIẢI, thế danh LÊ BẢO AN, thuộc đơøi Lâm Tế Chánh Tông thứ Bốn mươi hai. Nguyên Hòa Thượng sanh năm 1914 (Giáp dần), tại thôn Tịnh Bình, xã Nhơn Hạnh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh, trong gia đình Lê gia thế phiệt, vốn dòng môn phong Nho giáo, đời đời thâm tín Tam Bảo, tôn sùng Ðạo Phật. Thân phụ là cụ ông LÊ PHÚNG, pháp danh NHƯ KINH, thân mẫu cụ bà TỪ THỊ HỮU, pháp danh NHƯ BẰNG, đức mẫu là cụ bà NGUYỄN THỊ CƠ, pháp danh NHƯ DUYÊN.
09/04/2013(Xem: 17553)
HT Thích Giác Trí, húy Nguyên Quán, phương trượng chùa Long Hoa, quận Phù Cát - Bình Định, tuổi Mậu Thìn 1928, năm nay 80 tuổi. Năm 13 tuổi Ngài xuất gia với Đại sư Huyền Giác, là Trụ trì tổ đình Tịnh Lâm Phù Cát. HT Mật Hiển 1907-1992 chùa Trúc Lâm, Huế, thọ giới Tỳ kheo tại đây năm 1935, giới đàn do HT Huyền Giác thành lập, thỉnh Tổ quốc sư Phước Huệ làm Đàn Đầu Hòa Thượng.