Bậc Bồ Tát hiện hữu....(T.Giải Hiền)

22/09/201320:17(Xem: 13961)
Bậc Bồ Tát hiện hữu....(T.Giải Hiền)
HT Thich Chi Tin


Bậc Bồ Tát hiện hữu

trong đời vốn bình dị đến vậy



Ôn Chí Tín đã viên tịch, chúng con muốn viết đôi dòng để tưởng nhớ đến hình ảnh một vị Bồ Tát bình dị trong đời, đạo đức sáng ngời để đàn hậu tấn chúng con phải học, phải cố mà noi theo.

Năm 1975 khi cùng quý ôn, quý thầy chùa Linh Sơn Đà Lạt về sống ở Tổ đình Long Sơn mấy tháng trước khi đất nước đổi thay, hình ảnh của Ôn đã để lại dấu ấn rất lớn trong cuộc đời của chúng con. Ôn hiền từ, lo lắng cho bao nhiêu người từ các tỉnh Tây Nguyên, miền trung lúc đó đổ dồn về thành phố Nha Trang để tìm đường vào Sài Gòn và ở kín khắp sân chùa Long Sơn. Ôn đứng ra cứu tế phát gạo, thực phẩm, quần áo… sắp xếp chỗ ăn, chỗ nằm để ổn định cuộc sống cho mọi người. Ôn như hiện thân của Phật Quan Âm cứu độ vậy.

Thời kỳ đất nước khó khăn về kinh tế, quý thầy ở Phật học viện Hải Đức và chùa Long Sơn phải đi làm thêm ở xưởng sản xuất nước tương để tự túc kinh tế, là trụ trì nhưng Ôn lại đi làm hương đăng, nấu cơm cho chúng để quý thầy có đủ thời gian tu tập, nghỉ ngơi và sản xuất. Ôn đi rồi… biết khi nào chúng con mới có thể tìm lại được hình ảnh của người thầy trụ trì giản dị và thương chúng như Ôn vậy.

Đất nước thống nhất, sinh hoạt tôn giáo bước vào một giai đoạn mới , nhiều quy định khó khăn cho việc tu học, xuất gia của tầng lớp tu sĩ nên nhiều người đã trở về đời sống bình thường, những cư sĩ “tu xuất” ấy, nhiều người trước đã biết đến Ôn, hiểu rõ lòng từ quảng đại của Ôn đã không ngại liên lạc xin Ôn giúp đỡ cuộc sống khó khăn trước mắt, Ôn đã rất hoan hỉ đem số tiền ít ỏi Phật tử cúng dường cho riêng mình để san sẻ gánh năng cùng họ. Tâm từ rộng mở của Ôn là chất liệu mà người xuất gia chúng con bây giờ cần phải nuôi lớn trong mình làm nền tảng để sống và hành đạo ở đời.

“Mấy chục năm như một ngày” Ôn vẫn âm thầm dùng lòng từ bi chân chánh để thực hành tâm hạnh Bồ Tát của mình, làm nhà từ thiện không một ai biết đến, không báo chí truyền hình, không người quảng bá loan tin, không hội đoàn, quỹ nhóm. Chỉ có Ôn, người bán hàng và bệnh nhân biết rõ việc Ôn làm. Ôn luôn đem số tiền mà Phật tử cúng dường riêng cho Ôn trong mỗi ngày để cứ đến chiều Ôn lại đem mua sữa, mua đường… rồi một mình vào bệnh viện phát cho các bệnh nhân, không cần ai biết, chẳng màng ai hay, kiên trì thực hiện tâm hạnh Bồ Tát ấy suốt cả cuộc đời. Có ai xứng đáng làm nhà Từ Thiện chân thật bằng lòng bi mẫn chúng sanh hơn Ôn được !

Cư sĩ Hà Lão Sanh và nhóm bạn của ông ở Đài Nam, Đài Loan kể cho con nghe việc họ phát tâm cúng xây dựng trụ đá A Dục ở chùa Long Sơn là vì khi họ đến Nha Trang viếng cảnh lễ Phật ở chùa, Ôn gặp họ không cần biết họ là ai, Ôn tiếp đãi cho họ ăn cơm trưa một cách bình thường nhưng tràn đầy từ bi đúng với cách mà Ôn vẫn làm thường ngày. Điều đó đã làm cho họ cảm nhận đức độ và lòng từ của một bậc trưởng lão nên họ đã phát tâm làm việc Phật sự đó tràn đầy hoan hỉ và an lạc. Bậc xuất gia chân chánh “tiếp nhơn đãi vật” là thế bình dị mà cao sang thu nhiếp được tất cả. Người xuất gia thời nay chúng con phải học và phải học nơi Ôn những điều “tầm thường” đó.

Ôn ra đi, về với chư Phật, chư tổ, trở về với quốc độ của các bậc Bồ Tát thiện nhân. Mấy chục năm, đến với cuộc đời, lo cho ngôi Tam Bảo Sắc Tứ Long Sơn, tiếp tăng độ chúng. Ôn chỉ đem đến và để lại cho người xuất gia hậu học chúng con một bài học bằng chính thân giáo của mình, bài học sống làm người xuất gia chân chánh không chức tước địa vị, thật sự giữ cho được cái thanh cao đáng quý của người tu sĩ Phật giáo. Bài học sống làm người trụ trì giữ gìn chánh Pháp, đạo phong, thương chúng, độ tăng chuyên hành Phật sự vì chúng hy sinh, lo cho Tam Bảo trường tồn, cho đạo pháp cứu trụ mà không nuôi dưỡng tâm niệm biến ngôi chùa tài sản chung của xã hội thành của riêng cho bản thân và tông môn của mình. Phải hiểu chân thật ý nghĩa phục vụ thập phương tăng để hành xử đúng mực trong chức vụ trụ trì của mình.

Bài học phải dùng lòng từ bi chân chánh của các Bậc Bồ Tát để làm việc xã hội, hoằng hóa chúng sanh không vì danh vì lợi, đến và đi trong cuộc đời một cách bình dị sáng trong của bậc xuất trần thượng sĩ.

Ôn đã để lại cả một bài học vô giá mà những người Thích tử hậu tấn chúng con phải suy ngẫm vã nỗ lực nhiệt thành, học và ứng dụng suốt một đời.

Biết bao người còn nhớ mãi hình ảnh một vị Bồ Tát bình dị trong sáng hiện hữu ở đời tỏa ngát hương trầm khắp muôn nơi. Ôn vẫn còn đó, còn mãi nơi tổ đình với hình ảnh ấy, bình dị mà cao sang đến tuyệt vời !

Thích Giải Hiền

Hội trưởng Hội Sự NghiệpTừ Thiện Minh Đức

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11421)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12606)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24031)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10024)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8590)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8481)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8355)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9502)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9682)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14948)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: