Quân tử bất khí

14/08/201307:45(Xem: 11579)
Quân tử bất khí


HT_Tri_Thu_4QUÂN TỬ BẤT KHÍ

(Tưởng nhớ ngôn từ hàm dưỡng của Ôn Già Lam)

Pháp tử: TỊNH MINH



Năm 1973, một buổi sáng đẹp trời, khoảng 9 giờ, anh em đi học hết, tôi và anh Bình, tức Giải Đàm, ở nhà hè nhau cưa một gốc mít khô đứng lù lù trước mé hàng rào chùa Già Lam. Gốc mít thì bự, cái cưa thì dài, lại yếu và lụt, nên hai chàng lực sĩ “lỗ cốt” hì hà hì hục cả giờ mà chỉ cưa được giáp vòng gốc cây với độ sâu một lưỡi cưa. Lúc đầu áo quần chỉnh tề, sau thấy nóng quá, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cả hai cởi áo vất trên ghế, quần guộn trật bồ lương, nỗ lực kéo, nhưng cái cưa cứ cà giật cà giật ra tuồng trêu tức, tôi nổi quạu đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh, nhìn gốc cây hằn học : “Ước gì giờ đây có hai cái búa của Lý Quỳ thì mi sẽ biết tay ông!”. Anh Bình cũng đứng dậy, cười ruồi, mím mím cái miệng hơi móm nhưng trông có duyên và rất dễ thương, nói giọng đâm hông : “Tướng ông mà xách nổi cái búa của Lý Quỳ thì cây mít này đã không chết khô”. Ôn đứng trên lầu quan sát chúng tôi thế nào bỗng thấy Ôn bưng một đĩa đựng khoảng một nắm kẹo hảo hạng và hai muối sầu riêng to tướng, vàng óng, thơm phức đến đưa cho tôi. Tôi đưa hai tay tiếp nhận với câu: “Xin cảm ôn Ôn”. Đoạn Ôn hỏi:

- Quân tử bất khí là gì hè?

Tôi đưa mắt nhìn anh Bình, ảnh lại liếc mắt nháy nháy ra hiệu tôi trả lời. Với dòng suy luận hách hách theo kiểu thầy Giác Tuệ đã móm cho chúng tôi hồi còn làm điệu ở Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang rằng: “Thiên sanh ngã tài tắc hữu dụng”, tôi đáp:

- Bạch Ôn, theo con: “quân tử bất khí” là thời đại nào, xã hội nào, chế độ nào cũng cần và đãi ngộ người quân tử một cách xứng đáng.

Ôn hứ nghe cái cốc, nói:

- Rứa mà cũng hai ba cử “dơn”! (tức cử nhơn, theo giọng Huế).

Anh Bình ra vẻ khoái chí, cười sặc sặc; còn tôi thì chưng hửng, hơi xấu hổ, suy nghĩ trong giây lát rồi ra vẻ tự tin :

- Bạch Ôn! “Bất khí” là không thể bỏ. Vậy “quân tử bất khí” là người quân tử không được vất đi đâu!

Bấy giờ Ôn cười với nụ cười “thắng lợi” và giảng rằng:

- Quân tử bất khí là người quân tử không giống như dụng cụ. Mỗi dụng cụ đều có một công dụng riêng của nó. Ví như cái nồi là dùng để nấu cơm, nhưng ta có thể dùng nó để nấu canh, nấu nước, kho chao, luộc mít v.v…, bất khí là vậy đó.

Trời đất! Con cứ tưởng “khí” là vất bỏ, không ngờ là dụng cụ. Và cũng để chữa thẹn, tôi chống chế:

- Nếu Ôn viết ra là con đã có thể trả lời đúng rồi.

- Rứa mới đố! Ôn nói.

Bấy giờ Ôn cười rất hoan hỷ rồi đi vô.

Hai chúng tôi bê đĩa sầu riêng và kẹo đặt xuống đất ngồi thưởng thức.

Trong khi mút mút múi sầu riêng, tôi hỏi:

- Anh Bình, anh nghĩ gì về câu hỏi của Ôn?

- Nghĩ gì !… Nghĩ nữa trật nữa!

- Vậy sao hồi nãy anh không trả lời!

- Để Tịnh Minh lãnh sẹo chơi!

- Anh khôn lắm!

- Hà!… Hà!…

Chúng tôi ngồi im lặng nhai kẹo, mắt nhìn vu vơ về phía trước, không ai bảo ai, nhưng trong thâm tâm đều nhận ra tấm lòng từ ái bao dung, khéo khen khích lệ với hoài vọng thâm thúy mà Ôn đã dành cho hai chúng tôi. Ôn muốn mỗi Tăng chúng là một cá thể trí đức thâm hậu, nội ngoại quảng bát, biết ứng phú đạo tràng và hành xử linh hoạt, biến hóa trong mọi tình huống. “Quân tử bất khí” là vậy đó.

Kíng bạch giác linh Ôn, hơn hai mươi năm qua, cứ mỗi lần động đến khái niệm “con nguời toàn diện” là con lại nhớ đến câu “quân tử bất khí”. Ôn đã mãn cơ duyên hóa độ từ lâu, nhưng ánh mắt, nụ cười và giọng nói đầy khích lệ thân thương của Ôn vẫn còn đọng mãi trong tâm khảm chúng con. Nam mô!

(Đã đăng trong đặc san kỷ yếu Ngày Về Cội 1996, Quảng Hương Già Lam)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/08/2011(Xem: 9414)
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sử, giải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tông, thiền sư Việt Nam; Trần Nhân Tông, nhà văn hóa; Trần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạc; Trần Nhân Tông, nhà tư tưởng... Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
10/08/2011(Xem: 9242)
Lịch sử dân tộc VN không có nhiều vị vua có được sự ghi chép đầy đủ về sự mến mộ của người dân sau khi đã mất như Vua Trần Nhân Tông. 50 năm cuộc đời, nhà vua để lại bao lưu luyến cho những người đương thời và hậu thế... - nhận định của GS-TS Lê Mạnh Thát - Phó Viện trưởng thường trực Học viện Phật giáo VN tại TPHCM.
09/08/2011(Xem: 7737)
Gần đến kỷ niệm 700 năm ngày mất của vua Trần Nhân Tông, chúng ta vẫn phải đặt những câu hỏi về tuổi tác, về trách nhiệm, về kế lâu dài, về sự tự do và tự trọng của các cá nhân trong xã hội…
09/08/2011(Xem: 7788)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7878)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8973)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7810)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8851)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17322)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8918)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).