Hoài niệm

13/08/201316:16(Xem: 9838)
Hoài niệm
ChuTonDuc (146)

HOÀI NIỆM
(Kỷ Niệm 18 Năm (1984-2002) Ngày HT Thích Trí Thủ,
Nguyên Chủ Tịch HĐTS GHPGVN Viên Tịch)

Pháp tử: TỊNH MINH



Viết về Ôn Già Lam thật khó, khó vì tự nhận thấy mình là đàn con em hậu học, gần gũi với Ôn chưa được bao nhiêu, vả lại nhân cách và đạo phong của Ôn rực rỡ quá; các bậc huynh trưởng tôn túc được Ôn dưỡng dục hai ba mươi năm còn không dám đặt bút thành văn, huống nữa là mình. Nhưng không viết vào dịp đặc san kỷ yếu này thì biết bao giờ mới bày tỏ được chút tình nồng ấm thiêng liêng mà Ôn đã dành cho mình qua bao năm tháng. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi mạnh dạn ghi lại đây đôi điều mắt thấy tai nghe, gọi là niệm chút ân tình dâng Ôn nhân ngày húy kỵ.

Hồi còn ở Già Lam, có lẽ tôi là người duy nhất cạo tóc cho Ôn. Đôi lúc bận Phật sự, Ôn phải cạo tóc lúc bảy giờ tối để kịp sám hối, hoặc bốn giờ khuya để kịp bố tát. Mỗi lần cạo tóc cho Ôn là tôi rất mực cẩn trọng, chỉ được phép cạo nhẹ một đường dài từ trên xuống dưới, nhúng dao lam vào thau nước cho hết tóc rồi cạo qua đường khác, không dám nhắp nhắp, nhắp là có thể chảy máu ngay. Những mụt rùi son đỏ mọng to bằng hạt tấm hạt gạo rải rác nhô lên khắp đầu. Thường thì tôi đứng trịnh trọng, nhẹ nhàng, im lặng cạo tóc, cạo mặt Ôn rồi xuống, để Ôn tự cạo râu. Một hôm, trong lúc cạo tóc, Ôn hỏi:

- Đầu tui thế nào, có méo không?

- Dạ… đầu Ôn tròn và đẹp lắm, tôi đáp. Con thấy da đầu của người ta đa số là sạm nắng, còn Ôn thì đỏ au hà, nhất là mụt rùi son nhiều lắm. Con không dám nói chuyện trong lúc cạo là vậy đó.

Bỗng dưng Ôn trầm giọng, niệm:

Nam mô A Di Đà Phật

Con vào dạ mạ đi tu.

Có lẽ Ôn đang nghĩ đến ân đức sinh thành của người mẹ hiền đã bao năm xa cách. Thảo nào có lần Ôn đã từ chối tham dự hội nghị Phật giáo thế giới được tổ chức tại Nhật. Trong cuộc họp chúng, Ôn nói: “Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du”. Hình như năm ấy Ôn đã quá lục tuần, thân mẫu của Ôn cũng đã ngoài tám mươi. Ôn không dám đi xa, sợ mẹ già có bề gì, không có Ôn bên cạnh. Ôn thương mẹ như thế đó. Ai bảo “Cát ái từ thân” là hết? Lòng hiếu thảo và nhân cách tuyệt vời của Ôn đã để lại trong ta những bài học vô cùng thâm diệu. Ôn thường dạy: “Các ông học Phật mà không đọc sách Nho, nhất là bộ Luận ngữ, Đạo Đức kinh, Nam Hoa kinh là thiếu sót”.

Phải chăng nhờ tinh thông Nho Lão Thích mà tâm hồn Ôn lúc nào cũng phóng khoáng, nhẹ nhàng, tươi mát.

Tôi nhớ có lần được Ôn cho đi Tây Ninh đặt bàn ghế cho ký nhi viện và tham quan Tòa Thánh. Gần đến chợ Long Hoa, xe chạy từ từ, bỗng dưng Ôn bảo chú Thu dừng lại. Không biết Ôn định làm gì, đoạn thấy Ôn xuống xe và đi thẳng lại chỗ bà cụ ngồi co ro trong chiếc áo chằm nhăn nheo nhiều màu sắc với chiếc nón cời tơi tả trên đầu; trước mặt bà là một cái lồng ọp ẹp nhốt ba con gà ri to bằng nắm tay, lông lá xơ xác. Thấy Ôn tiến đến, bà cụ lom khom đứng dậy, chắp tay xá xá và niệm Mô Phật, Mô Phật. Có lẽ bà cụ theo đạo Phật chứ không phải theo đạo Cao Đài. Ôn chỉ tay vào lồng gà hỏi:

- Bà bán bao nhiêu?

Bà cụ chắp tay xá xá, miệng ấp úng không nói nên lời. Những người xung quanh im lặng nhìn Ôn với ánh mắt chứa đầy thiện cảm. Có lẽ họ ngạc nhiên lắm. Ai đời một sư ông như vậy mà đi mua gà, lại mua ba con gà cù rụ sắp toi nữa chứ! Thấy bà cụ không nói, tôi sợ bà không hiểu phải xưng hô như thế nào nên không dám thưa, tôi đỡ lời : “Cụ bán bao nhiêu? Sư ông mua thật đấy”. Cái miệng móm chút xíu không còn một cái răng với hai vệt trầu đỏ tươi dính hai bên mép cười chúm chím trông rầt hiền lành và rất tội nghiệp. Bà cụ xoa xoa hai tay nói: “Xin sư ông cho sáu chục”. Ôn mở bóp đưa bà một trăm. Bà lại chắp tay xá xá. Tôi xách lồng gà chào bà, theo Ôn lên xe và nghe sau lưng có tiếng vọng lại: “Bà có phước đấy! Sư ông mua giúp cho bà đấy!” Có lẽ bấy giờ bà cụ là người hạnh phúc nhất đời.

Đấy, tâm hồn của Ôn là vậy đấy! Thấy việc gì phải là làm. Động lòng thương cảm là làm. Làm với thái độ ung dung tự tại, vô danh vô tướng, vô trụ vô cầu, mặc cho ai nghĩ sao cũng được.

Ngồi trên xe tôi tự hỏi: “Tại sao chú Thu và mình không thấy bà cụ. Đúng là thứ mã tử lục tặc, ngồi ngó trời ngó đất chứ có ngó gì đến người nghèo khổ!”

Cách đây ba bốn năm, Ôn có nuôi một cặp hoàng yến, chúng sinh được ba con chim con rất đẹp, Ôn thích lắm. Một hôm, khoảng ba giờ chiều, tôi về Già Lam hầu Ôn, vừa đến cửa đã thấy Ôn ngồi trầm ngâm ngắm chim mẹ mớm mồi cho chim con. Tôi xá Ôn với câu: “Bạch Ôn con mới đến”. Không quay lại, Ôn nói:

- Nhìn kìa! Chim mẹ khẩn trương nuôi con từ năm giờ sáng.

- Nhìn Ôn ngắm gia đình nhà chim nuôi con, con lại nhớ đến lời ca “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”…

- Chứ răng! “Thập nguyệt hoài thai, tam niên nhũ bộ, thử ân thử đức, phấn cốt nan thù”ø. Ôn nói với giọng điệu như thán. Đoạn Ôn dạy: “Chim còn thương con như vậy huống nữa là người. Cha mẹ nào mà chẳng thương con. Các ông ở đời đừng bao giờ nói đến cái tệ, cái xấu của con người khác, phải lựa lời mà nói. Mình biết con mình ăn trộm, hỗn láo, nhưng không muốn cho ai nói con mình là kẻ ăn trộm, hỗn láo”. Tâm lượng của Ôn vô cùng nhân hậu. Đúng là:

Hiếm thấy ai ở đời,

Biết tự chế khiêm tốn,

Tránh mọi lời thương tổn,

Như ngựa hiền tránh roi

(PC. 143)

Ôn còn khiêm tốn với cả chúng Tăng. Anh em nào có lỗi, Ôn kêu dạy bằng những lời rất chân tình thắm thiết.

Ôn thương chúng Tăng như mẹ thương con. Có lần Ôn quy y cho một số Phật tử gần chùa, xong lễ Ôn dạy: “Các Phật tử đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nhưng Tăng ở đây đa số còn trẻ, còn đang đi học; nếu thấy các chú đôi lúc thổi sáo, đánh đàn hay ca hát chi đó thì các Phật tử bỏ qua cho. Còn trẻ là vậy đó, mai kia lớn lên các chú sẽ nhuần nhuyễn ra”. Các Phật tử đều chắp tay cúi đầu im lặng, một sự im lặng hoan hỷ và thương kính Ôn vô vàn.

Kính lạy giác linh Ôn, Ôn thường nhắc nhở và dạy chúng con:

Khó thay sống khiêm tốn,

Thanh tịnh tâm vô tư,

Giản dị đời trong sạch,

Sáng suốt trọn kiếp người.

(PC. 245)

Nay Ôn không còn nữa. Ôn đã đi trọn đoạn đường nhân thế với nhân cách và đạo phong rực rỡ như ánh trăng rằm. Có điều đàn chim hoàng yến của Ôn đa số nay đã tung cánh líu lo mỗi con một hướng, khắp bốn phương trời. Dù ca hót thế nào chăng nữa thì chúng cũng không bao giờ quên được những hạt đậu hạt mè, cọng rau lá cải, bàn tay e ấp, giọng nói thân thương của người đã bao năm chăm sóc cho chúng đến ngày đủ lông đủ cánh.

(Tịnh Minh, đã đăng trong Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ kỷ yếu, Văn Phòng Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ấn hành 1993.)

Lần thứ hai trích đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 115, ngày 10/4/2002, nhân ngày húy kỵ Hòa Thượng, mồng Một tháng 3 năm Nhâm Ngọ, nhằm ngày 13/4/2002)

Lần thứ ba trích đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 271, ngày 7/4/2005 với tựa đề: Một Nhân Cách và Đạo Phong Rực Rỡ, nhân ngày Húy kỵ Hòa Thượng, 1/3 Ất Dậu.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2014(Xem: 15031)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
03/08/2014(Xem: 8736)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
31/07/2014(Xem: 20564)
An Cư Kiết Đông đã qua, Nhưng lời thuyết pháp đậm đà vẫn vương Thích Ca tái thế tình thương Thầy về giảng Pháp con nương nơi Thầy
27/07/2014(Xem: 10001)
Con đang ở lại trần gian trong bầu không khí Đạo pháp hơn 2000 năm. Nhưng kinh sách thiên vạn quyển cũng không bằng được sống bên bậc danh Tăng thạc đức trong ngôi nhà Vạn Hạnh. Tình thương yêu của Ôn luôn tưới tẩm và lan tỏa trong toàn thân con mỗi ngày khi được sống bên Ôn.
24/07/2014(Xem: 15857)
Mới đó mà một năm sắp trôi qua và hai năm cũng sẽ đến ngày viên tịch của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, Viện Chủ chùa Khánh Anh kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu. Giáo Hội Âu Châu mong mỏi thực hiện một Kỷ Yếu nhân lễ Đại Tường (2015) nên đã giao phần gom góp và biên tập bài vở cũng như trang trí quyển Kỷ Yếu nầy cho Hòa Thượng Thích Như Điển (Đức), Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ) và Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng (Úc Châu) thực hiện. Lâu nay chúng ta đã có một số bài tiêu biểu đã được đăng trên các trang nhà như : quangduc.com, viengiac.de, hoavouu.com và một số trang nhà khác.
22/07/2014(Xem: 39070)
Ngôi tu viện Phật giáo vùng Tây Bắc của tiểu bang Victoria được Thượng tọa Thích Tâm Phương khai sơn từ năm 1990. Ban đầu tu viện tọa lạc ở vùng Broadmeadows. Đến năm 1995, tu viện vận động mua lại ngôi trường tiểu học Fawkner cũ có diện tích 8.000 m2 và xây dựng thành ngôi phạm vũ trang nghiêm mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức từ năm 1997 đến năm 2003. Công trình xây dựng do kiến trúc sư Nguyễn Kiển Thành thiết kế, kiến lập theo kiểu chữ “Công” mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông. Đại lễ khánh thành được tu viện tổ chức trọng thể vào các ngày 10, 11 và 12-10-2003. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm thờ tôn tượng đồng đức Phật Thích Ca thiền định. Tượng cao 2,50m, nặng khoảng 1,5 tấn. Phía trước và hai bên, tu viện đặt thờ nhiều tượng Phật, Bồ tát, Hộ Pháp Già Lam. Đến năm 2008, tu viện xây Tăng xá và Bảo tháp Tứ Ân. Bảo tháp 4 tầng, cao 14m, rộng 5m, trên nóc tôn trí tượng đức Phật A Di Đà cao 1,2m. Trong bảo tháp tôn thờ Xá Lợi Phật, tượng chư Phật, Bồ tát và linh cốt của Phật tử q
12/07/2014(Xem: 9925)
Thời gian mãi trôi qua, không gian chưa bao giờ ngừng sự chuyển động và con người cũng phải già thêm, vì không thể cưỡng lại định luật vô thường vốn tự có. Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế Ngài hay dạy cho các vị đệ tử rằng: Phàm những gì có hình tướng thì tất cả đều bị chi phối bởi sự vô thường, mà đã vô thường thì nguyên nhân chính của nó là khổ, nhưng thật ra cái khổ nó cũng không có thật tướng, vì bản thể của mọi hiện tượng đều là không. Sở dĩ có, vì có ái và thủ chấp hữu, nên mới có những tướng sanh diệt. Khi nào không duyên vào bất cứ một hiện tượng hay hình thức nào bên ngoài, thì lúc ấy chúng ta sẽ chứng được thực tướng của Niết Bàn vô sanh vô diệt.
05/07/2014(Xem: 8404)
Hôm nay, dẫu Ni trưởng Thích nữ Viên Minh duyên trần đã mãn nhưng tâm hạnh và sự nghiệp tu tập của Người mãi là kho tàng vô giá, là ngọn Hải đăng cho Ni chúng Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung đồng tôn ngưỡng hướng về. Ni trưởng thế danh Nguyễn Thị Khiêm Tốn, húy thượng Tâm hạ Huệ, tự Viên Minh, hiệu Trí Uyên, sinh năm Giáp Dần (1914) tại thôn Động Giả, xã Đỗ Động, huyện Thanh Oai, Hà Nội (tức tỉnh Hà Đông).
01/07/2014(Xem: 11178)
Ni sư Thích nữ Hải Triều Hạnh, Pháp Hiệu Hoằng Hạnh, Tự Liễu Như, thế danh Trần Duy Hạnh. Sinh năm Ất Mùi 1955 tại Gia Định sài gòn. Ni Sư sinh trưởng trong 1 gia đình gia giáo. Thân phụ là cụ ông Trần Duy Ninh PD: Hoằng Ninh, vốn là em kết nghĩa của Thầy Hải Triều Âm là một y sĩ cùng làm chung một sở y tế với Thầy, khi Thầy chưa xuất gia cụ ông luôn theo Thầy làm trưởng đoàn công tác từ thiện xã hội và Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Hoa Truật, pháp danh Mỹ Dung, sau Hòa Thượng Pháp Chủ đổi tên là Cát Tường vốn là vị hộ pháp thân tín trong thời gian Thầy xuất gia, nhập thất và suốt chặng đường hoằng Pháp của Thầy.