Hoà thượng Thiện Siêu

18/08/201308:41(Xem: 8954)
Hoà thượng Thiện Siêu

Hoà thượng Thiện Siêu

"người không chấp trước những thị phi thế trị"

NGUYỄN ĐẮC XUÂN

ht-thien-sieu_4

Di ảnh cố HT Thiện Siêu tháng 8-2001

Hồi nhỏ ba tôi đưa tôi lên qui y với Hoà thượng Đôn Hậu tại chùa Thiên Mụ (1956), nhưng sau lớn lên học Đại học, vào Đoàn Sinh viên Phật tử (1963), tôi lại tham gia "tranh đấu Phật giáo" tại chùa Từ Đàm (1963-1966). Hoà thượng Thích Thiện Siêu là một trong những vị lãnh đạo của tôi lúc ấy.

Trong đoàn Sinh viên Phật tử, tôi thuộc vào loại actif (thích động) như các bạn Tôn Thất Kỳ, Nguyễn Văn, Nguyễn Thiết, Lê Minh Trường . . . ít khi chịu gò mình vào cái chủ trương bất bạo động của Phật giáo. Chúng tôi hay bày trò khiêu khích công an cảnh sát, tổ chức biểu tình, tuyệt thực tranh đấu khi chưa được lịnh của quý thầy. Vì thế tôi hay bị thầy Thiện Siêu quở trách. Biết mình có lỗi nên mỗi lần bị thầy kêu lên là tôi vái ngay và xin nhận lỗi, hứa từ ấy về sau sẽ không dám hành động "trật đường rầy" (cụm từ HT Thiện Siêu hay dùng) nữa. Khi hứa, tôi hứa rất thành thực, nhưng sau đó chứng nào lại tật ấy, tôi tái phạm đều đều. Thấy thấy tôi ít "phục thiện" nên thấy không thèm quở trách nữa mà đổi qua biện pháp "giận". Hoà thượng vốn bản tánh rất hiền, nên thấy thầy giận tôi rất sợ và tìm cách lẩn tránh thầy. Đầu tháng tư năm 1966, do yêu cầu "chi viện cho Đà Nẵng" sinh viên Huế lập ra đoàn Sinh viên Quyết tử và "bầu" tôi làm Đoàn trưởng lo tổ chức cho sinh viên đi học quân sự để đánh nhau với quân đội Thiệu Kỳ. Tin ấy lên đến chùa Từ Đàm, quý thầy lãnh đạo phong trào gọi tôi lên. Linh tính báo cho tôi biết lên chùa Từ Đàm lúc ấy là mệt lắm nên tôi lần lữa khất chưa dám lên. Các thầy lại gọi, cuối cùng tôi tìm được một giải pháp là tìm cách trình diện với thầy Thiện Siêu trước. Dù sao thầy cũng không nỡ kỷ luật tôi một cách nặng nề. Và quả như thế.

Thấy tôi dẫn xác đến, thầy nén cơn giận hỏi ngay:

- Anh là Đoàn phó đoàn Sinh viên Phật tử, Phật tử là bất bạo động, tại sao lại đi tổ chức Sinh viên quyết tử gây bạo động ?

Câu hỏi như một trái núi đổ xuống trước mặt tôi, biết không thể vượt qua nên tôi tìm cách chạy quanh:

- Bạch thầy, con biết như rứa là sai, do anh em sinh viên họ bầu nên con không nỡ từ chối. Nhưng tụi con mà chiến đấu chi được, đi học quân sự để tự vệ thôi. Kính mong quý thầy xá tội !

Thầy bảo tôi rất nhỏ nhẹ nhưng nội dung thật cứng rắn giống như một quyết định:

- Anh là sinh viên anh muốn tranh đấu theo kiểu gì tùy anh, nhưng Phật tử thì phải theo Phật, phải bất bạo động. Anh muốn theo sinh viên thì phải từ chức Đoàn phó sinh viên Phật tử và ra khỏi đoàn Sinh viên Phật tử ngay !

Là một phật tử, dù sao tôi cũng phải thực hiện cái nguyên tắc tối thiểu là "qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng" cho nên tôi không thể làm trái ý thầy Thiện Siêu- người đại diện cho quí vị Thiền sư lãnh đạo Phong trào tranh đấu năm ấy. Tôi chắp tay hứa với thầy sẽ thực hiện theo quyết định của quý thầy. Nhưng may sao, nhiều sinh viên Phật tử tham gia đoàn Sinh viên quyết tử không ai đồng ý việc tôi ra khỏi đoàn Sinh viên quyết tử cả. Tiếp đến nhiều sự kiện tranh đấu ác liệt diễn ra liên tục, Thiệu Kỳ với sự ủng hộ của chính phủ Mỹ Johnson ngày một ngày hai đe dọa "làm cỏ phong trào miền Trung". Không những đoàn Sinh viên Quyết tử không giải tán mà nhiều giới khác như công chức Phật tử, Giáo chức Phật tử, Hoc sinh Phật tử, Nữ sinh Đồng Khánh cũng đoàn ngũ hoá để tự vệ. Ngay cả gia đình Phật tử thuần túy Phật giáo cũng phải tổ chức thành các đội "Bách nhân" (Bách nhân đội) để học quân sự đối phó với sự đe dọa của quân đội Thiệu Kỳ. Tôi thoát được việc thi hành quyết định giải tán đoàn Sinh viên quyết tử của thầy Thiện Siêu. Nhưng không lâu sau đó, Thiệu Kỳ và chính quyền Thừa Thiên Huế (đứng đầu là tỉnh trưởng Phan Văn Khoa) làm áp lực với Phật giáo đòi để họ vào các chùa bắt ba người là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân. Thầy Thiện Siêu cùng các thầy lãnh đạo ở chùa Từ Đàm phản đối quyết liệt yêu sách của chính quyền Thiệu Kỳ. Thầy Thiện Siêu hỏi tỉnh trưởng Phan Văn Khoa:" Anh là Phật tử, các cậu ấy cũng là Phật tử tại sao anh lại đòi bắt họ ?" Bị hỏi bất ngờ, Phan Văn Khoa đành ngậm miệng rút lui.

Biết không thể có mặt ở Huế thêm nữa, hai anh em Hoàng Phủ liên lạc được với Thành ủy rồi thoát ly. Còn tôi thì phải ẩn mình trong chùa Diệu Đế để tiếp tục công việc trong đài phát thanh Cứu nguy Phật giáo đặt ngay trong chùa. Sau đó được tin Thiệu Kỳ sẽ truy bắt tôi, các thầy bảo tôi phải rời chùa Diệu Đế ngay để tránh khỏi bị bắt như hồi tháng 8.1963 nữa. Tôi mượn áo cà-sa mặc vào, giả làm một ni-cô và được hai sinh viên Quyết tử (cũng là sinh viên Phật tử) là Phạm Văn Rơ và Cao Hữu Điền (*) "hộ tống" lên chùa Từ Đàm. Lên chùa được hai hôm, thầy Thiện Siêu gởi tôi vào ẩn ở chùa Kim Tiên của thầy Chánh Trực. Ở Kim Tiên được một tuần, tôi lại chuyển qua ở chùa Tường Vân. Để có thể thoát được sự theo dõi của bọn tình báo, tôi được thầy Chơn Tế cạo đầu cho giả làm một nhà sư của chùa. Nhưng rồi ở Tường Vân cũng không yên, nhiều lần tôi bị lính Nùng của Thiệu Kỳ vây bắt. Nếu không có sự che chở của các thầy chùa Tường Vân thì tôi đã nát thây với lính Thiệu Kỳ từ cuối tháng 6. 1966 rồi. Không ngờ chùa Tường Vân năm trong "địa bàn lõm" của Thành ủy Huế. Tất cả những căng thẳng đe dọa diễn ra hằng ngày đối với tôi ở chùa Tường Vân, Thành ủy Huế đều biết. Đến đầu tháng 7.1966, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Thành uỷ Huế trên chiến khu gởi thư rủ tôi ra bưng nghỉ một thời gian chờ tình hình đàn áp của Thiệu Kỳ lắng xuống rồi sẽ trở lại Huế. Sống với các thầy nhiều năm, ranh giới giữa Phật giáo và Mặt trận giài phóng trong tôi rất mờ nhạt cho nên khi nhận được thư anh Tường từ chiến khu gởi vào tôi thấy không có gì bất ngờ cả. Hơn nữa, trước đó không lâu (5.1966), hai ông bạn tôi là N.N.L. và Trịnh Công Sơn đã trao đổi với tôi về lối thoát cho các cuộc tranh đấu lúc đó là "Con đường của Mặt trận giải phóng". Cho nên cái thư của anh Tường trở thành lối thoát của tôi. Mấy hôm sau tôi ra đi trong bộ áo cà-sa của một nhà sư (10.7.1966). Không chỉ "một thời gian ngắn" như anh Tường viết mà rong ruỗi xuôi ngược Trường Sơn đến chín năm (1966-1975).

Lên rừng tôi có nhiều dịp kể lại vai trò của Hoà thượng Thiện Siêu trong các Phong trào tranh đấu ở đô thị. Các vị lãnh đạo Thành ủy (đứng đầu là ông Lê Tư Minh) bảo tôi :"Sẽ mời Hoà thượng Thích Thiện Siêu tham gia Mặt trận Liên Minh của Thành phố Huế". Sau mùa Xuân 1968, tôi được biết người được cử đi mời Hoà thượng Thiên Siêu không hoàn thành nhiệm vụ. Người thay vào vị trí dự kiến của Hoà thượng Thiện Siêu là Hoà thượng Thích Đôn Hậu - bổn sư của tôi.

Từ sau năm 1975, vì công tác tôi không có nhiều dịp được hầu chuyện Hoà thượng Thiện Siêu. Nhưng những lần gặp Hoà thượng ít ỏi đó cũng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Những kỷ niệm nầy đã sống dậy trong tôi suốt thời gian Hoà thượng nằm chữa bệnh rồi viên tịch cách đây (12.2001) vài tháng.

Vào năm một ngàn chín trăm tám mấy tôi không nhớ, vô tình tôi được xem một cuộc trưng bày về văn hóa Phật giáo Thừa Thiên Huế ở Nhà giảng chùa Từ Đàm. Vốn là một Phật tử nhưng tôi không ngờ các chùa Huế còn giữ được những hiện vật văn hóa Thuận Hoá Phú Xuân phong phú, quí hiếm đến như thế. Ví dụ như chiếc chuông đồng đúc thời Cảnh Hưng, bản Kinh Kim Cương thêu trên gấm đời Cảnh Thịnh.. . . Bên cạnh những cổ vật còn có những chậu cảnh cổ thụ hàng trăm năm, những Bonsai hết sức mỹ thuật. Cuộc trưng bày gợi cho tôi viết được một bài báo ngắn đăng trên Người Du Lich Thành phố Hồ Chí Minh với nhan đề " Chùa Huế - nơi gìn giữ những báu vật quốc gia". Sau đó tôi xin gặp Hoà thượng Thiên Siêu đề nghị Phật giáo nên xin phép Nhà nước thành lập một Bảo tàng văn hóa Phật giáo tại Huế để cho khách du lịch trong và ngoài nước thưởng lãm. Hoà thượng Thiện Siêu bảo tôi với tất cả sự dè dặt của một vị lãnh đạo tinh thần đã trải qua biết bao thăng trầm sóng gió:

- Xin nhà nước cũng được thôi. Phật giáo không cầm quyền, không có thế lực gì trong việc truyền bá đạo Phật cả. Nếu có cơ hội dùng văn hóa để hoằng dương đạo pháp thì không có chi tốt cho bằng. Nhưng ai làm, lấy tiền đâu mà làm, làm rồi ai coi ngó ? Bây giờ thầy cúng thì nhiều chứ tìm thầy coi sóc nhà Bảo tàng văn hóa đâu phải chuyện dễ. Chưa có con người thì chưa tính được chi cả.

Tôi rất thấm thía lời chỉ dạy của Hoà thượng. Chuyện thiếu người có đạo đức có chuyên môn để làm việc đâu phải chỉ riêng của Phật giáo ! Người làm việc thì hiếm nhưng người chưỡi bới vu khống nhau thì tràn đầy. Tôi được đọc nhiều bài báo, nhiều buổi phát thanh của đài ngoại quốc vu khống Hoà thượng là "sư quốc doanh", tay sai của chính quyền xã hội chủ nghĩa. Tôi phản ảnh chuyện ấy lại với Hoà thượng. Hoà thượng cười :" Họ nói tôi là sư quốc doanh còn may. Anh không biết có người đã gởi thư đe dọa tôi, thậm chí gởi kèm theo cả vài viên đạn nữa. Thế tục người ta có thể làm như thế, còn một người xuất gia như tôi thì . . .chẳng có gì quan trọng cả".

Đến đầu năm 1990, sau khi chia lại ranh giới hành chính ba tỉnh Bình Tri Thiên, báo chí dư luận quan tâm đến Trung tâm văn hóa du lịch Huế. Tôi nghĩ văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng của Trung tâm văn hóa du lịch Huế, với tư cách là Phóng viên tạp chí Sông Hương (bút danh chung cho mục nầy là Người Sông Hương), tôi thực hiện một cuộc gặp gỡ Hoà thượng Thiện Siêu nói về vai trò của Phật giáo trong sự nghiệp phát triển văn hóa du lịch Huế. Hoà thượng đã nhiệt tình trả lời những câu hỏi của tôi rất thẳng thắn. Hoà thượng không ngại phê phán những hiện tượng tiêu cực của thanh niên Huế hồi ấy. Tôi rất thú vị những câu trả lời thẳng thắn của Hoà thượng. Tôi muốn qua cuộc gặp gỡ nầy trả lời cho dư luận thấy sự đứng đắn của Hoà thượng Thiện Siêu. Bài được đăng vào số tháng 5/1990. Không ngờ tình hình chính trị lúc bấy giờ có nhiều phức tạp, một số người có trách nhiệm không hiểu hết chủ trương của Ban biên tập tạp chí Sông Hương và không hiểu con người đích thực của Hoà thượng Thiện Siêu nên đã ngăn chặn việc phát hành số tạp chí trên. Điều đó làm cho tôi hết sức đau khổ. Tôi khổ tâm nhất là đã làm rầy rà đến Hoà thượng. Dù Hoà thượng không gọi tôi lên như hồi năm 1966, nhưng tôi vẫn dẫn xác lên và trăm lạy thầy mong thầy thông cảm cho việc số tạp chí có đăng bài trả lời bài phỏng vấn của Hoà thượng không phát hành được. Tôi không ngờ Hoà thượng xem việc đó là chuyện bình thường. Hoà thượng bảo tôi:

- Anh hỏi thì tôi nói. Còn đăng hay không, phát hành được hay không là việc của các anh. Tôi chỉ sợ vì những câu trả lời của tôi gây khó khăn cho anh thôi. Còn đối với nhà chùa thì . . A-di-đà Phật !

Tôi có bị khó khăn thật, bị đưa ra khỏi tạp chí Sông Hương nhưng tôi cam chịu. Biết Hoà thượng không than phiền gì tôi rất yên tâm.

Sau đó ít lâu, Hoà thượng nhờ người gọi tôi lên để nghe Hoà thượng nói một chuyện quan trọng. Tôi lên ngay và Hoà thượng hỏi tôi:

- Lãnh đạo và Mặt trận tỉnh đề nghị tôi ra ứng cử Đại biểu Quốc Hội, anh thấy có nên ra không ?

Tôi không giấu được sự mừng rỡ, thưa ngay:

- Trước kia lãnh đạo tỉnh chưa hiểu Hoà thượng nên chưa tin, bây giờ quí vị đã hiểu muốn vời Hoà thượng ra ứng cử thì Hoà thượng nên ra để Phật tử có được một tiếng nói giữa Quốc Hội.

Hoà thượng đã ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đã trúng cử với số phiếu lớn. Không những ứng cử một khóa mà đến hai khoá liền. Đúng như điều anh Hoàng bạn tôi đã viết :"Hoà thượng Thiện Siêu là người không chấp trước những thị phi thế trị". Những Phật sự trong quyền hạn của Hoà thượng thì Hoà thượng làm, mặc cho cuộc đời thích hay không thích.

Sau ngày hưu trí (1998), tôi có điều kiện thời gian để thăm viếng Hoà thượng nhiều lần hơn. Tôi được nghe Hoà thượng kể chuyện thành lập Phật học viện ở Huế, đại trùng tu chùa Thuyền Tôn . Có hôm Hoà thượng kể cho tôi nghe chuyện khi khai mạc Phật học viện tại Huế, Hoà thượng đã bị những người cùng mặc áo cà-sa với Hoà thượng rượt đánh Hoà thượng như thế nào. Điều lạ là nhắc lại một chuyện đau thương đến thế mà Hoà thượng kể với một nụ cười trên môi. Tôi có cảm giác như Hoà thượng đã quá quen với những oan trái của đời mình. Phải chăng vì thế mà có người viết điện chia buồn với Phật giáo bảo rằng Hoà thượng Thiên Siêu viên tịch là đã "giải nghiệp". Hoà thượng viên tịch là giải được cái nghiệp đầy nghịch cảnh của Hoà thượng chăng ?

. . .Sau thời gian nằm cấp cứu ở Bệnh viện Huế nhưng không hy vọng cứu được, vào cuối tháng 9 năm 2001, Hoà thượng được đưa về Từ Đàm để tiếp tục chăm sóc trong tinh thần "con nước còn tát". Lòng dạ các đệ tử của Hoà thượng ở khắp nơi đều hướng về Từ Đàm cầu nguyện cho Hoà thượng bớt nỗi đau đớn về bệnh tật để tinh thần được thanh thoát bước vào cõi Niết bàn. Vào chiếu ngày thứ 6, 27.9. 2001, tôi hân hạnh được các học trò của Hoà thượng cho phép vào bên giường bệnh hầu Hoà thượng lần cuối. Lúc đó Hoà thượng đang nhắm mắt niệm Phật. Biết tôi vào lạy thầy, Hoà thượng mở mắt và nở một nụ cười chào tôi. Tôi hết sức ngạc nhiên, cứ tưởng là Hoà thượng đã mê man rồi, không ngờ Hoà thượng vẫn thanh thản vui tươi, không có gì tỏ vẽ đau đớn và bi thảm trước lúc từ giả cuộc đời cả. Tôi chúc mừng Hoà thượng đã viên mãn được những việc lớn là đại trùng tu chùa Thuyền Tôn và tổ chức thành công Phật học viện để đào tạo tăng tài cho Phật giáo trong tương lai. Hoà thượng ngúc đầu khe khẻ và bất ngờ bảo tôi: "Chuyện khu bảo tàng văn hóa Phật giáo ở Huế cũng đã được chính quyền quan tâm. Chính quyền đang đi tìm địa điểm thích hợp. Tôi không còn cơ hội để đóng góp nữa, hy vọng ở những người còn tại thế . . ." Tôi sụp lạy Hoà thượng, xin Hoà thượng hãy yên nghĩ. Những chuyện phải làm thế nào cũng sẽ trở thành hiện thực.

Chuyện Bảo tàng văn hóa Phật giáo đề cập đến đã mười mấy năm, không ngờ Hoà thượng vẫn nhớ và vẫn theo đuổi cho đến lúc khả thi. Hoà thượng đã thanh thỏa điều bận tâm cuối cùng với tôi vào lần cuối cùng tôi được gặp Hoà thượng.

Sự thanh thảng, sáng suốt của Hoà thượng Thiện Siêu trước lúc lâm chung làm cho tôi ngộ ra nhiều điều. Làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến nơi đến chốn. Thấy việc đúng cần phải làm thì làm và làm đến cùng, không sợ trở ngại từ đâu đến. Là một người xuất gia, sống thì Hoà thượng làm việc cho cho Đạo và cho dân, chết thì vễ cõi vô thường không có điều gì phải bi thương, hối tiếc cả. Hiểu được cuộc đời của Hoà thượng Thiện Siêu tôi hiểu hơn về những nghịch cảnh của đời tôi.

Ba mươi tám năm (1963-2001) được gần gũi Hòa thượng, tôi chưa làm được bất cứ điều gì để cho Hoà thượng vừa lòng. Trái lại với cái phong cách actif của tôi, tôi đã gây cho Hoà thượng quá nhiều phiền muộn. Hôm nay chắp tay sám hối trước bàn thờ Hoà thượng, tôi nẩy ra một điều tâm niệm : Nếu được mời tham gia xây dựng Bảo tàng văn hóa Phật giáo Huế, tôi xin đề nghị Bảo tàng ấy nên đặt tên Bảo tàng văn hóa Phật giáo Thiện Siêu".

Gác Thọ Lộc, một ngày chớm Đông năm Tỵ, 2001
NGUYỄN ĐẮC XUÂN

Ghi chú (*): Hiện nay Phạm Văn Rơ là bác sĩ ở Đà Nẵng, Cao Hựu Điền là hướng dẫn viên du lịch Quốc tế thường xuyên đi lại giữa Huế và các điểm du lịch khác ở VN.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/04/2021(Xem: 13052)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
23/04/2021(Xem: 7192)
Hoà thượng Thích Từ Hương thế danh là Nguyễn Mạnh Trừng. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1928 tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.Trong một gia đình phú nông. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Tiêm. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chai pháp danh Nhật Cang. Từ lúc ra đời cho đến năm 1954, Hoà thượng ở tại quê nhà theo học tiểu học và sinh sống tại địa phương.
23/04/2021(Xem: 6898)
Hòa thượng Đạo hiệu Thích Thiện Duyên, thế danh Võ Đình Như, sinh ngày 20/10/1926 tại thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài là con thứ 3 trong gia đình. Thân phụ và thân mẫu của Hòa thượng là cụ ông Võ Toản pháp danh Nhựt Toàn và cụ Bà Đặng Thị Chức pháp danh Diệu Phát. Gia đình Ngài có truyền thống Phật giáo thuần thành. Với túc duyên nhiều đời, từ nhỏ, Ngài thường được bà nội dẫn đến chùa làng tụng kinh niệm Phật. Gặp lúc Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm – Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định, Ngài sớm thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
11/04/2021(Xem: 12350)
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, Kính thưa tất cả quý Phật tử trong và ngoài nước, Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng xin trân trọng kính báo: Thượng Toạ Thích Tuệ Giác, Hội trưởng Hội Thiền Học Việt Nam Hải Ngoại, Viện trưởng Tổ Đình Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Đã viên tịch vào lúc 4:30 chiều Thứ Bảy ngày 10 tháng 4 năm 2021 (nhằm 29 tháng 2 năm Tân Sửu) Tại Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Quận hạt San Diego, CA, Hoa Kỳ. Trụ thế 62 năm, 31 Hạ Lạp Chương trình Tang Lễ của Thượng toạ Thích Tuệ Giác sẽ được kính báo trong thời gian sớm nhất. Chúng con nhất tâm xin cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và mời gọi quý Phật tử cùng chung lòng cầu nguyện. Thay mặt BTC Tang Lễ xin được trân trọng kính báo. Tỳ kheo Thích Tuệ Tỉnh
31/03/2021(Xem: 7770)
Trễ hẹn trong tang lễ, rồi cúng 21 ngày và 49 ngày cố nhạc sĩ Hằng Vang ( 1936 – 2021 ), một số Anh Chị em cựu huynh trưởng giữ đúng lời hứa, rất uy tín, lòng tự dăn lòng rằng nhất định sẽ họp mặt để cùng nhau thắp cho vị nhạc sĩ nén hương tưởng nhớ, tri ân những dòng nhạc mà phần lớn đã theo chân nhiều thế hệ Gia Đình Phật Tử ( GĐPT ) và các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, nối tiếp nhau cho đến tận hôm nay. Và ngày đó phải là ngày cúng chung thất 49 ngày, nhất định không hẹn xa xăm nửa. Sau khi loại trừ nhiều trở ngại, cộng vào nh74ng thuận duyên chung, tất cả đã chọn ngày chủ nhật 21/03/2021 9 nhằm ngày mùng 9 tháng hai năm Tân Sửu vừa rồi
10/03/2021(Xem: 7832)
Cố Hòa Thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh; nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán. Ngài lâm thế ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận III (nay là phường An Hải, quận Sơn Trà), thành phố Đà Nẵng; chánh quán làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Ngài là trưởng nam trong một gia đình có năm anh em gồm ba trai và hai gái. Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tần tảo nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được mẫu thân gởi đến Thầy Tư Tri (Như Tín) – trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ – nhận cho nhập Chúng tu học.
10/03/2021(Xem: 17871)
Cư sĩ Quảng Hải Phan Trung Kiên sinh năm Nhâm Dần (1962) tại Phường Tân Thái, Quận 3, Đà Nẵng (nay là Phường Mân Thái), là người con thứ ba trong gia đình có 9 anh em (5 trai, 4 gái). Vượt biên cùng với Ba và 3 anh em trai vào tháng 6 năm 1981 và định cư đến Mỹ vào cuối tháng 3 năm 1982. Má và các em gái cùng em trai út vượt biên năm 1988 và cả gia đình sum họp tại Hoa Kỳ vào năm 1989.
01/03/2021(Xem: 31194)
Trang nhà Quảng Đức vừa nhận được tin buồn: Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 21 giờ 20 phút ngày Thứ Bảy 22/02/2020 nhằm ngày 29/01 Âm lịch năm Canh Tý, Phật lịch 2563 tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn. Trụ thế: 93 năm. Chương trình tang lễ sẽ được công bố trong thời gian sớm nhất có thể. Chúng con thành kính nguyện cầu Đức Đại Lão Hòa Thượng Cao Đăng Phật Quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta Ba để tiếp tục công cuộc hoằng Pháp lợi sanh. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
23/02/2021(Xem: 8635)
Tin buồn Cư sĩ Đỗ Đình Đồng; Pháp danh: Chơn Trí đã an nhiên trút hơi thở tại Hoa Kỳ vào lúc 01 giờ 02 phút khuya ngày 17 tháng 2 năm 2021 (mồng 6 tháng giêng năm Tân Sửu). Hưởng thọ 76 xuân. Trong một cơn bạo bệnh, ông bị máu đông trong động mạch phổi. Bác sĩ cho ống thông vào để phá máu đông nhưng tim ông đã ngừng đập khiến ông phải thở bằng máy và đã an nhiên trút hơi thở cuối cùng sau một ngày một đêm trên máy thở. Ông ra đi đột ngột khi đang dịch dang dỡ một quyển sách khác về giáo lý đạo Phật. Ông thanh thản hồn nhiên trút hơi thở, không biểu hiện sự đau đớn, và có hiền thê, hiếu tử hiền tôn bên cạnh niệm Phật cầu nguyện.
03/02/2021(Xem: 33626)
Vừa qua nhóm ảnh Nhất Chi Mai thuộc tu viện Phước Hòa (Đồng Nai), được sự hướng dẫn của Thượng toạ Viện chủ đã đến Buôn Mê Thuột để quay những thước phim đầu tiên về nhạc sĩ Hằng Vang. Cùng với cố nhạc sĩ Lê Cao Phan, Bửu Bác... được xem như lớp tiền phong của dòng tân nhạc Phật giáo. Nhạc sĩ Hằng Vang tên thật là Nguyễn Đình Vang, sinh năm 1933 tại Huế. Trong hơn 60 năm sáng tác, ông có hàng trăm ca khúc về đề tài này, nổi bật nhất là ca khúc Ánh Đạo vàng (1958) đã thấm sâu vào lòng Phật tử suốt thời gian dài từ khi ra đời.