Tiếng Vọng Lưng Đồi

11/08/201304:45(Xem: 10265)
Tiếng Vọng Lưng Đồi
minh_hoa_quang_duc (1)

TIẾNG VỌNG LƯNG ĐỒI
Kíng dâng giác linh Bổn sư húy thượng Tâm hạ Trí tự Viên Giác hiệu Chiếu Nhiên đại sư
Pháp tử: TỊNH MINH




Than ôi!

Biển Nam Hải chập chùng sóng bạc,

Núi Phổ Đà bát ngát đường mây,

Quán Âm đại điện còn đây,

Trời thu lãng đãng bóng Thầy khuất xa.

Xót thay! Nhớ lại năm xưa, rừng hoang u tịch, cô thân chích bóng, vượt suối trèo đèo; giữa cỏ cây đồi dốc cheo leo, tâm Bồ Tát ngại gì sương gió.

Hết lòng vì Đạo, một dạ thủy chung, canh núi ban rừng, đắp nền xe cát; nuôi hạnh cả hoằng dương chánh pháp, lập nguyện cao tự độ độ người; hai mươi năm khổ hạnh ngược xuôi, góp hoa lá trang nghiêm Phật độ.

Vừa cất chùa Giác Hải, lại xây điện Quán Âm, tiếp đào giếng Cam Lồ, xong thành lập thiền xá.

Biết bao lúc đi trong nắng hạ, lại lắm phen bước giữa giá đông, đêm hai thời tịnh chỉ nghiêm cần, ngày một bữa rau dưa đạm bạc.

Giới pháp truyền đạt, đạo nghiệp vun trồng; chí những mong liễu ngộ tâm tông, biến trần cảnh thành ra Phật cảnh.

Cất thêm nhà Tăng, xây thêm nhà giảng; rồi mở trường, đúc chuông, đào hồ, dựng tháp; thỉnh Pháp khí để hộ trì chánh pháp, xây ngọ môn để trấn át ma vương, mãi lạc quan giữa hư ảo đoạn thường, mắc thêm điện cho cảnh thêm mầu nhiệm.

Thênh thang trời biển, một dải non bồng; hoa vô ưu bừng giữa trời đông, thuyền bát nhã cập bờ Nam Hải.

Kính lạy Thầy! Chúng con nhớ mãi, cảnh đêm đêm gió mưa tơi tả, rừng âm u đổ lá lưng đèo; bờ đá rêu chập choạng lần theo, vin gậy trúc xuống đồi dạy chúng.

Từng ánh hồng rơi, từng cơn gió lộng; nét tài hoa đượm thắm nghĩa ân tình.

Dưới mái tranh nghèo, ấm vọng nhịp kinh; lời gấm dệt chắp thành thơ diễm tuyệt.

Bóng Thầy biền biệt, âm hưởng còn đây; nghĩa sắc không theo con nước vơi đầy, lý trung đạo ngược xuôi dòng nhị đế.

Thầy thường dạy chúng con: “Không là không của vô vi tuyệt đối, có là có của tuyệt đối vô vi; không là không của bát nhã chơn không, có là có của nhất thừa thực tướng. Không để tự độ, có để độ người”.

Cho hay! Giữa nhân gian trang trắng vỗ tay cười, rung thiền trượng lên đồi non nhập định.

Chao ôi! Viết sách, dịch kinh, lập chùa, độ chúng; bao công hạnh như mùa thu lá rụng, còn chăng là trong diệu nghĩa chân thường.

Dâng Thầy một nén tâm hương,

Cho vơi giọt lệ vô thường quặn đau.

Hạc vàng chừ đã bay cao,

Tùng lâm nay lại thắm bao tình người.

Ai về thăm núi Ông Sư,

Nghe trong cây cỏ tiếng cười diệu âm.

(Đầu thu năm Mậu Ngọ 1978 – trước điện Quan Âm trên đỉnh núi Ông Sư – thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Đã đăng trong tuần báo Giác Ngộ số 72, Đặc San Vu Lan, ngày 16/8/1997)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/08/2011(Xem: 9304)
Về cuộc đời và sự nghiệp lịch sử, giải thoát của vua Trần Nhân Tông, đã có nhiều công trình biên khảo: Trần Nhân Tông, thiền sư Việt Nam; Trần Nhân Tông, nhà văn hóa; Trần Nhân Tông, nhà thơ; Trần Nhân Tông, nhà quân sự; Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo lỗi lạc; Trần Nhân Tông, nhà tư tưởng... Trong bài khảo luận ngắn này, người viết chỉ đề cập đến một số nét tiêu biểu về Tiểu sử, sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học của Người.
10/08/2011(Xem: 9120)
Lịch sử dân tộc VN không có nhiều vị vua có được sự ghi chép đầy đủ về sự mến mộ của người dân sau khi đã mất như Vua Trần Nhân Tông. 50 năm cuộc đời, nhà vua để lại bao lưu luyến cho những người đương thời và hậu thế... - nhận định của GS-TS Lê Mạnh Thát - Phó Viện trưởng thường trực Học viện Phật giáo VN tại TPHCM.
09/08/2011(Xem: 7509)
Gần đến kỷ niệm 700 năm ngày mất của vua Trần Nhân Tông, chúng ta vẫn phải đặt những câu hỏi về tuổi tác, về trách nhiệm, về kế lâu dài, về sự tự do và tự trọng của các cá nhân trong xã hội…
09/08/2011(Xem: 7685)
Nghiệm sinh nửa thế kỷ trên cõi đời, Trần Nhân Tông (1258-1308) đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng đất nước, phát triển tư tưởng Phật giáo dân tộc và là một trong những tác giả đi đầu trong việc sáng tác thơ phú bằng chữ Hán và chữ Nôm.
09/08/2011(Xem: 7777)
Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau khi khoác tăng bào ở tuổi 40 đã chu du khắp nơi để thuyết pháp, giảng kinh, khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, và từng trở về kinh đô Thăng Long tổ chức lễ thụ Bồ tát giới cho vua Trần Anh Tông và quan lại triều đình.
09/08/2011(Xem: 8841)
'Vậy là đã 700 năm, 7 thế kỷ trôi qua từ khi Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, thể nhập vào niết bàn an nhiên tự tại. Cả dân tộc Việt Nam đều được biết đến Ngài là một bậc quân vương anh minh của đất nước Đại Việt, mà cũng là một vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nói đúng hơn, Ngài là một vị “Vua Phật” của Việt Nam.
08/08/2011(Xem: 7646)
Lễ húy nhật cố Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1963) - chùa Hải Đức
08/08/2011(Xem: 8667)
"Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành?" - Câu hỏi được phần nào lý giải trong tham luận của Nguyễn Trần Trương (Phó Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ninh) trong Hội thảo tưởng niệm 700 năm ngày Đức vua
07/08/2011(Xem: 17218)
Nói đến tinh thần "Hòa quang đồng trần" tức là nói đến tinh thần nhập thế của đạo Phật, lấy ánh sáng của đức Phật để thắp sáng trần gian, “sống trong lòng thế tục, hòa ánh sáng của mình trong cuộc đời bụi bặm”, và biết cách biến sứ mệnh đạo Phật thành lý tưởng phụng sự cho đời, giải thoát khổ đau cho cá nhân và xã hội. Thời đại nhà Trần và đặc biệt vua Trần Nhân Tông (1258-1308) đã làm được điều này thành công rực rỡ, mở ra trang sử huy hoàng cho dân tộc.
04/08/2011(Xem: 8794)
Hòa thượng Thích Bích Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hoằng đạo, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam; nguyên Chánh Đại Diện GHPGCT Trung phần, Tổ thứ 3 Tổ đình Nghĩa Phương, Tổ Khai sơn các chùa thuộc Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Tông trưởng Tông phong Tổ đình Nghĩa Phương (1921 - 1972).