Điếu văn của Giáo Hội

06/08/201308:36(Xem: 13747)
Điếu văn của Giáo Hội


Suba_HaiTrieuAm_8

Điếu Văn Của Ban Tri Sự Tỉnh Hội,
Phật Giáo Lâm Đồng.
Đọc Trong Lễ Tưởng Niệm Ni Trưởng Hải Triều Âm

Kính bạch Giác linh cố Ni trưởng!
Than ôi! Sóng vỗ ngọn tùng
Hỡi ôi! Mây giăng đỉnh hạc
Trời Đại Ninh trăng mờ ánh bạc
Dòng Thiện Chí nước đọng nguồn cơn
Chín mươi bốn năm xả vọng quy chơn
Ba vạn sáu ngày yểm trần hân Tịnh.

Nhớ Giác linh xưa!
Bẩm thọ huyễn xu hai dòng Pháp – Việt
Gá thân tứ đại trụ xứ Hà Đông
Đỉnh đạc dung nghi nức tiếng Hải Phòng
Đoan chánh nhu mì thơm danh Hà Nội
Sớm được song thân chỉ đường dẫn lối
May nhờ Phật pháp biết chánh bỏ tà
Thoạt nghe phẩm Quán Âm Quảng Trần, ngộ huyền chỉ sâu xa
Vừa tụng Kinh Thế Chí Niệm Phật, bừng pháp môn vi diệu
Viết báo Bồ Đề chuyển hóa tư tưởng đồng niên thanh thiếu
In kinh từ thiện giúp đỡ đời sống trưởng ấu anh nhi
Cầu Trưởng Lão Thích Tuệ Nhuận thọ giáo quy y
Nương Hòa Thượng Thích Đức Nhuận xuất gia thế phát.

Non cao khó đón đường mây bạc
Trúc rậm khôn ngăn ngọn suối trong
Y chỉ Tỳ-kheo ni Tịnh Uyển giới đức tinh ròng
Nương náu A-lan-nhã Thanh Xuân sách đèn cần mẫn
Lìa chốn Tổ, quê hương Bắc Việt vô Nam
Giữ tông phong, ni trường Dược Sư nhập chúng
Phụng dưỡng mẹ già báo ân cúc dục
Kính nhường huynh đệ trọng nghĩa đồng liêu
Sáu năm tròn bên chùa Vạn Đức nhập thất tĩnh tu
Bảy năm chẵn nơi gác Linh Quang bế môn niệm Phật.

Giới đức lặng vào trong
Phước tướng hiện ra ngoài
Câu A-di lắng xuống trong từng hơi thở nguôi ngoai
Kệ Bát nhã ngân lên nơi mỗi hồi chuông thánh thoát
Hóa duyên chừ bát ngát
Tịnh nghiệp chừ mênh mang
Phật tử bốn phương về chiêm lễ hàng hàng
Ni chúng ba miền về quy y lớp lớp
Khai sơn nhiều ngôi thất Linh Quang, Ni Liên, Liên Hoa, Hương Sen
Xây dựng mấy kiểng chùa Dược Sư, Lăng Nghiêm, Viên Thông, Bát Nhã
Bát kỉnh pháp là giới phần tạo giềng mối cho niềm khiêm hạ
Tứ niệm xứ làm quán hạnh đặt đường lối cho pháp nhiếp tâm
Viết sách dịch kinh bối diệp nghiên tầm
Tra văn cứu Luật hãn thanh sưu tập
Cặn kẽ từng lời dạy chúng đường tu
Kỹ càng từng chữ chỉ người nẻo giác.

Vui niềm Cực Lạc
Ngán nỗi phù trần
Tứ đại rã hề cát bụi phù vân
Thần thức lìa hề căn phần dương diệm
Than ôi! Tòng lâm thạch trụ một sớm sương phơi
Hỡi ôi! Lan nhã linh đài hôm nay khói phủ
Trời Lâm Đồng mây mưa vần vũ
Đất Đại Ninh sỏi đá xôn xao
Đồ chúng mất đi bậc Thầy gieo hạt tỳ-ni hương nhũ thanh cao
Ni bộ mất đi người giữ vườn thi-la giới hạnh tinh khiết
Giáo hội Lâm Đồng ngậm ngùi tiễn biệt
Tăng già nước Việt lặng lẽ phân ưu
Ngưỡng nguyện Giác linh cửu phẩm vân du
Gia trì pháp quyến Tam môn trấn tĩnh.

Nam mô Tự Tào Động pháp phái, húy Hải Triều Âm, tự Đại Thành, hiệu Bác Tế Từ Hòa, Kim Quang Tháp đài tiền Đại Lão Ni Trưởng Giác Linh nhã giám

Thay mặt Ban tri sự tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng thành tâm ai điếu.
Tỳ Kheo Thích Nguyên Hiền (chấp bút)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10291)
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Đéc – Đồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông. Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhatanga) suốt mười hai năm. Năm 1951 Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy
09/04/2013(Xem: 9153)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh, Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh xuất sắc.
09/04/2013(Xem: 10748)
Hòa thượng Khánh Hòa thế danh Lê Khánh Hòa, Pháp danh Như Trí, pháp hiệu Khánh Hòa, sinh năm Mậu Thân (1877) tại làng Phú Lễ, tổng Bảo Trị, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
09/04/2013(Xem: 9277)
Hòa thượng Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn Anh, sinh ngày mùng 1 tháng 8 năm Tân Hợi ( 1911 ) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sinh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ là cụ Bùi Thế Vĩ, pháp danh Như chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh là Thị Bửu. Từ nhỏ Ngài được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của Phật, nên Ngài sớm mộ cửa Thiền.
09/04/2013(Xem: 8626)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sing năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902,Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt danh pháp là Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm y học.
09/04/2013(Xem: 8869)
Hòa thượng Thích Phúc Hộ, thế danh là Huỳnh Văn Nghĩa, sinh ngày 24 tháng 7 năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái năm thứ 16 tại làng Triều Sơn, xã Xuân Thọ, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Song thân của Ngài là cụ ông Huỳnh Trung và cụ bà Trần Thị Nho.
09/04/2013(Xem: 9838)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10000)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12806)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8436)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.