Sư Ông trong lòng chúng con

05/08/201114:29(Xem: 8006)
Sư Ông trong lòng chúng con

“Sư Ông trong lòng chúng con”


Kính bạch Sư Ông,
Trước Giác Linh của Sư Ông, chúng con nghẹn ngào không biết nói sao cho hết niềm thương kính người!
Sư Ông là người Thầy kính yêu đã thương yêu và bảo bọc anh chị em GĐPT chúng con trong suốt 10 năm qua. Tình thương của Sư Ông đã đến với chúng con từ những ngày chúng con còn lang thang ngoài công viên, rồi đến ngày chùa thành hình và chúng con được về nương tựa ngôi Tam Bảo. Từ một bãi đậu xe xiêu vẹo, Sư Ông đã từ từ biến nó thành một đòan quán ấm cúng cho chúng con hôm nay. Tình thương của Sư Ông rất chất phát và đơn giản, nhưng rất đậm đà và hiếm quý. Chúng con nhớ đến những đêm giao thừa, Sư Ông luôn ra nhắc nhở chúng con đã đến giờ Lễ Phật đêm giao thừa để vun bồi công đức hạnh trong cái tâm hồn trẻ. Văn nghệ múa Lân, tụng kinh giao thừa xong là đến giờ lãnh lộc. Sư Ông chúng con nổi tiếng là lì xì “tiền tươi”. Chúng con xếp hàng trong chánh điện hớn hở nhìn Sư Ông tươi cười phát lì xì với những tờ $1 mới. Nghịch ngợm, chúng con lại trốn vào xếp hàng lần thứ 2, Sư Ông biết nhưng vẫn vui vẻ lì xì chúng con một lần nữa, và chỉ xoa đầu nói “mi lãnh rồi phải không!” Chùa Phổ Đà tuy nhỏ nhưng thật là ấm cúng!


Điều mà chúng con nhớ nhất về Sư Ông là sự khiêm cung và đơn giản của người. Sư Ông là người Việt Namnhưng lại rất đúng giờ. Chúng con đều biết đi Lễ ở chùa Phổ Đà thì không thể đi trễ vì Sư Ông luôn hành lễ rất đúng giờ! Trong tất cả các buổi lễ lớn của chùa, Sư Ông cũng chỉ đơn giản một bộ y vàng cũ với cây gậy đi khắp chùa, gieo duyên với tất cả đàn con: già, trẻ, lớn, bé qua những câu nói tiếp xúc gần gũi. Sư Ông dù là trụ trì hay Đại Lão Hòa Thượng, nhưng người không bao giờ đặt mình vào những chỗ nổi bật. Ngay cả Lễ Khánh Thọ của Sư Ông mà chúng con còn tưởng rằng là Lễ chúc thọ của một Hòa Thượng khác, vì Sư Ông đã nhường chỗ và ngồi ngoài bìa của sân khấu!
Nay Sư Ông đi rồi, còn ai lì xì chúng con khi xuân về, còn ai thưởng cho chúng con sau mỗi lần văn nghệ cúng dường dù hay hay dở, còn ai đi quanh chùa vui dạy chúng con những câu nói đơn giản nhưng đầy đạo vị.
Sư Ông ơi! Đàn con sau này rồi sẽ ra sao? Sư Ông xa chúng con rồi, nhưng tình thương của Sư Ông vẫn sống mãi trong lòng chúng con!
Các con - GĐPT Phổ Đà

NamMô A Di Đà Phật
We are here today to mourn the death of our master or as we are known to call him thầy. we have come to show love and respect to thầy. he was always my favorite monk. I remember that when I was a little girl he would walk pass me and I would bow down and say “Nam Mô A Di Đà Phật”. and he would say that I’m a good girl and would pat me gently on my head. But now seeing him in a casket makes me really sad because I won’t get to see him walking pass by anymore.
I wish that your eternal life is filled with happiness in Buddha’s world.
NamMô A Di Đà Phật.
Tina Nguyễn


NAMMÔ A DI ĐÀ PHẬT
Hôm nay chúng con về đây để tưởng niệm Sư Ông của chúng con, người mà hàng ngày chúng con thường gọi là “Thầy”.
Chúng con đến đây để tỏ lòng thương mến và lòng tôn kính đến Sư Ông. Ngài là người mà con luôn thương mến và kính trọng.
Con nhớ từ khi còn nhỏ, mỗi khi gặp Sư Ông, con chắp tay và cửa miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Mỗi lần như vậy, Sư Ông luôn xoa đầu và khen con ngoan.
Đứng trước Kim Quan Sư Ông hôm nay, lòng con vô cùng xúc động vì từ nay, hình bóng Sư Ông không còn dạo quanh sân chùa để con được chắp tay xá, Nam Mô A Di Đà Phật.
Con cầu chúc Sư Ông mãi an vui bên Chư Phật.
NamMô A Di Đà Phật.
Tina Nguyen

GĐPT Phổ Đà đọc trong lễ thọ tang và tưởng niệm tối ngày 3 tháng 8

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10359)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10201)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12953)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8742)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14778)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8528)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8957)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10146)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8922)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14524)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.