Lời giới thiệu - Tiểu sử

05/06/201112:01(Xem: 11754)
Lời giới thiệu - Tiểu sử

BÓNG ÁO NÂU
TẬP SÁCH VỀ CUỘC ĐỜI THƯỢNG TỌA THÍCH CHƠN THANH
Biên tập: Minh Thuận - Huệ Nghiêm - Nhuận Liên

Lời Giới Thiệu

Thượng tọa Chơn Thanh là người học trò xuất sắc của Hoà thượng chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phải khẳng định rằng Thượng tọa rất nhiệt tình đối với sinh hoạt của Giáo hội chúng ta.

Mặc dù tuổi đời chưa nhiều, nhưng Thượng tọa đã trang nghiêm thân tâm bằng hạnh nguyện gắn bó mật thiết với đạo, nên Thượng tọa đã được quý tôn túc tín nhiệm, cơ cấu vào Hội đồng Trị sự Trung ương và phân công làm Phó Văn phòng 2 Trung ương của Giáo hội.

Ngoài công việc trợ giúp Hoà thượng Chủ tịch điều hành Ban Tăng sự Trung ương, Thượng tọa còn tích cực tham gia hoạt động của Ban Hoằng pháp Trung ương, với cương vị là Trưởng ban Hoằng pháp của Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh và cũng là Phó ban Hoằng pháp Trung ương đặc trách Giảng sư đoàn Trung ương. Đồng thời, Thượng tọa cũng đảm trách công việc giảng dạy tại các trường Phật học.

Có thể nói sự đóng góp của Thượng tọa Chơn Thanh rất lớn cho Giáo hội chúng ta. Và đặc biệt là tấm lòng trong sáng và đạo đức của Thượng tọa đã ảnh hưởng rất tốt đến Tăng Ni, Phật tử.

Mặc dù ngày nay Thượng tọa không còn hiện hữu trên cõi đời, nhưng Tăng Ni và tín đồ, những ai đã từng học hoặc nghe pháp với Thượng tọa, đều ghi dấu trong tâm họ những ý tưởng tốt đẹp về hình bóng của Thượng tọa Chơn Thanh, một mẫu người tu sĩ thiết tha vì đạo.

Tập sách này lưu lại tấm lòng của quí Tăng Ni và học trò luôn nghĩ đến Thượng tọa Chơn Thanh. Tôi xin giới thiệu với Tăng Ni, Phật tử. Mong rằng quý vị đọc và tìm thấy được những nét, đặc sắc qua tình cảm trong sáng của các tác giả ghi lại trong tập sách này, để xây dựng cho mình đời sống tốt đẹp.

HT.THÍCH TRÍ QUẢNG
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương

 

TIỂU SỬ
Thượng tọa THÍCH CHƠN THANH

bongaonau-chonthanhUỷ viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Phó văn phòng 2 Trung ương GHPGVN
Phó ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN
Chánh thư ký ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM
Trưởng ban Hoằng pháp Thành hội Phật giáo TP.HCM

I. THÂN THẾ

Thượng tọa Thích Chơn Thanh thế danh: Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 03 năm 1948. Quê quán: xã Mỹ Xương, quận Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Thân phụ là cụ ông Phan Văn Vinh (pháp danh: Thiện Quang), thân mẫu là bà Nguyễn Thị Mến (pháp danh: Diệu Hỷ). Thượng tọa có sáu anh em, hai trai bốn gái, ngài là anh cả trong gia đình.

II. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân phúc hậu, giàu lòng tin Tam Bảo, nhất là đã có gieo trồng hạt giống Bồ Đề, nên khi cơ duyên đã đủ, nhân xuất gia đến thời kỳ bộc phát, Thượng tọa phát tâm xuất gia, đầu sư với cố hoà thượng Thích Thiện Thọ, trụ trì chùa Phước Lâm, Tân Uyên, Biên Hoà, này là tỉnh Bình Dương, được bổn sư ban pháp húy là Nhật Bé, hiệu Chơn Thanh, nối dòng Lâm Tế gia phổ đời thứ 41.

Sau khi xuất gia học đạo năm 1964, Thượng tọa đã được bổn sư cho phép theo học lớp Sơ đẳng Phật học tại Phật học đường Phổ Quang, Phú Nhuận, Gia Định do hoà thượng Thích Thiện Thông làm Giám viện.

Năm 1965, khi Phật học viện Huệ Nghiêm được thành lập, Thượng tọa đã trúng tuyển thi nhập học lớp Trung đẳng Phật học và theo học suốt chương trình từ 1965 đến 1971 dưới sự lãnh đạo điều hành của quí hoà thượng: Bửu Huệ, Thanh Từ, Thiền Tâm v.v…

Năm 1965, để đầy đủ giới pháp tu hành, thượng tọa đã được ban Giám đốc cho đăng đàn thọ giới Sa di tại Phật học viện Huệ Nghiêm, do hoà thượng Thích Thiện Hoà làm Đường đầu hoà thượng.

Năm 1969, đã viên mãn tam đàn giới pháp, dự vào hàng Tam Bảo, thượng tọa đã được hoà thượng bổn sư cho đăng đàn thọ giới tỳ kheo tại Đại giới đàn Miền Quảng Đức được tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm, Gia Định do hoà thượng Thích Hải Tràng làm Đường đầu hoà thượng.

Năm 1971, viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm chính thức khai giảng, do hoà thượng Thích Trí Tịnh làm Viện trưởng, hoà thượng Thích Bửu Huệ là Phó viện trưởng. Thượng tọa theo học suốt chương trình tám năm tại viện mãn khoá vào năm 1977. Tuy nhiên chương trình học kinh bộ vẫn tiếp tục đến năm 1991 do hoà thượng Thích Trí Tịnh hướng dẫn.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Trong thời gian theo học tại viện, nhất là năm 1969 - 1975, thượng tọa là một trong những cán bộ Phật giáo đi xây dựng cơ sở hạ tầng cho GHPG VNTN tại các tỉnh miền Tây và miền Đông theo chủ trương của Viện Hoá Đạo. Đồng thời là thành viên trong giảng sư đoàn Trung ương thuộc Tổng vụ Hoằng pháp do hoà thượng Thích Huyền Vi là Tổng vụ trưởng đi truyền bá chánh pháp khắp nơi.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chương trình Theo dấu chân xưa về cảnh cũ của hoà thượng viện chủ chùa Huệ Nghiêm đã đề ra, nhằm tạo thắng duyên trong sự giải thoát qua pháp môn niệm Phật vãng sinh. Thượng tọa đã cùng các pháp lữ luân phiên nhập thất tịnh tu, tránh duyên bớt cảnh, một lòng phát nguyện vãng sinh.

Năm 1977, trong kỳ họp cũng cố và ổn định lại nhân sự ban Quản trị của viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm và chùa Huệ Nghiêm, Thượng tọa được ban Quản trị và đại chúng cử làm thư ký của ban Quản trị cho đến ngày về cõi Phật.

Năm 1982, Thành Hội Phật Giáo TP.HCM được thành lập, thượng tọa được Thành Hội Phật Giáo bổ nhiệm làm Phó ban đại diện Phật giáo huyện Bình Chánh trong suốt hai nhiệm kỳ (1982-1990).

Năm 1990, tại đại hội Phật giáo TP.HCM lần thứ III, thượng tọa được Đại hội suy cử là Phó thư ký, Phó Văn phòng Thành Hội Phật Giáo, Uỷ viên Hoằng Pháp rồi Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo TP.HCM.

Cũng năm 1997, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV, thượng tọa được Đại hội suy cử làm Uỷ viên Hội đồng Trị sự GHPGVN kiêm nhiệm Phó ban Hoằng pháp Trung ương, đồng thời được Ban thư ký Hội đồng Trị sự cử làm Phó Văn phòng II Trung ương Giáo hội nhiệm kỳ IV (1997-2002) đến ngày viên tịch.

Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV, thượng tọa được suy cử làm Chánh thư ký ban Trị sự kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo TP.HCM cho đến ngày xả báo an tường.

Trên cương vị là sứ giả Như Lai và trách nhiệm hiện hữu, nhằm tục Phật tuệ đăng, báo Phật ân đức, thượng tọa đã không ngại gian lao, không từ khó nhọc, nỗ lực hoằng dương chánh pháp, giáo hoá học đồ, tăng ni phật tử qua các trường Phật học, các giảng đường thính pháp, những đạo tràng lớp giáo lý phổ thông v.v… đã giúp cho tăng ni sinh, phật tử đượm nhuần ân pháp nhũ, tăng trưởng căn lành, trở thành người hữu ích cho đạo pháp và xã hội.

IV. VIÊN TỊCH

Những tưởng trên đường phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sinh, thượng tọa còn đóng góp tiếp tục và dài lâu hơn nữa theo nhựa sống dâng trào của người con Phật và trưởng tử của Như Lai, nào ngờ đâu, một phút vô thường, sau cơn bệnh, thượng tọa đã từ bỏ huyễn thân, thu thần viên tịch vào lúc 0 giờ 20 phút ngày 22 tháng 07 năm 2002 (nhằm ngày 13/06/Nhâm Ngọ), trụ thế 55 năm, trải qua 34 mùa an cư kiết hạ.

Thế là thượng tọa đã tạm từ bỏ sự hiện hữu của mình trong kiếp nhân sinh hiện tại trở về với thế giới Chân Như nơi xuất phát đầu tiên của người con Phật, của vạn loại hàm linh. Tuy nhiên, dù hôm nay thượng tọa không còn hiện hữu giữa cuộc đời, nhưng công đức và đạo nghiệp của thượng tọa vẫn còn khắc ghi trong tâm khảm của tất cả những người con Phật cũng như trong trang sử của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.


Chân thành cảm ơn TT Thích Thiện Bảo đã gởi tặng tập sách này.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/12/2010(Xem: 10622)
.Thế là đại hạn đến rồi ! - Giường hạc canh thâu (1) phút mộng tàn, Nghìn thu vĩnh biệt nẻo nhơn gian ! .Thật vậy! - Hóa thân Báo xả siêu sinh tử, Chân tánh quang thu nhập Niết bàn. .Tuy nhiên - Chết chẳng sợ sa đường địa ngục Sống không ham đến ngõ Thiên đàng. Thế thì Người đi đâu ? - Cân bình nửa gánh về quê Phật, Để lại trần gian ngọn Pháp tràng !
17/12/2010(Xem: 12226)
NGHI BÁO TIẾN CÚNG DƯỜNG HÚY KỴ HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC TÁNH TRỤ TRÌ TỔ ĐÌNH THIÊN ĐỨC (Mùng 04 - tháng Giêng - ÂL)
16/12/2010(Xem: 13832)
Xin cầu nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc, bình an và giải thoát. Tác giả mang ơn sâu đối với Thiền Sư Thích Thanh Từ và Giáo Sư Tiến Sĩ Trí Siêu Lê Mạnh Thát vì các công trình nghiên cứu và dịch thuật của hai thầy mà tác phẩm này đã dựa vào để tham khảo; và đối với bổn sư tác giả là Thiền Sư Thích Tịch Chiếu. Tác phẩm này được đặc biệt dâng tặng tới các thế hệ trẻ, và phổ quát dâng tặng cho tất cả chúng sinh.
16/12/2010(Xem: 8052)
Lời Phát Biểu của HT Huyền Quang tại Tang Lễ Ôn Đôn Hậu ngày 3-5-1992
10/12/2010(Xem: 13186)
Hoà Thượng thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên. Ngài sanh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân phụ là cụ Diệp Chí Hoan; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Đường. Hai cụ sinh hạ được 5 người con : 4 nam, 1 nữ - Ngài là con thứ trong gia đình, sau anh trưởng là Thầy Diệp Tôn (Thích Thiện Liên). Năm lên 6 tuổi (1928) gia đình Ngài dời về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài đã rước thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà để dạy chữ Hán cho hai con. Hai anh em Ngài thường được cụ Đồ khen là thông minh, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Năm lên 10 tuổi (1932), Ngài theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.
04/12/2010(Xem: 8928)
Thái Tử Tất Đạt Đa từ bỏ cung vàng điện ngọc vợ đẹp con thơ, để ra đi tìm phương giải thoát cho chính mình và chúng sanh. Lối 1332 năm sau Thái Tử Trần Khâm (1258-1308) cũng giã từ cung vàng tìm đến núi Yên Tử để xin xuất gia, mong trở thành sơn tăng sống cuộc đời thanh thoát. Nhưng vì vua cha ép buộc nên phải trở về để kế nghiệp trị dân. Ngay từ lúc nhỏ ông dốc lòng mộ đạo Phật ước muốn được đi tu, năm lên 16 tuổi Trần Khâm đã nhường ngôi vị Đông Cung Thái Tử cho em, vua cha nài ép mãi ông mới nhận lời. Dù không được đi xuất gia lúc bấy giờ, nhưng nơi ông đã thể hiện được con người siêu việt khác thường.
02/12/2010(Xem: 10708)
Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998)
25/11/2010(Xem: 36963)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
24/11/2010(Xem: 14324)
Tiểu sử nhà văn Quách Tấn