Lời giới thiệu - Tiểu sử

05/06/201112:01(Xem: 11967)
Lời giới thiệu - Tiểu sử

BÓNG ÁO NÂU
TẬP SÁCH VỀ CUỘC ĐỜI THƯỢNG TỌA THÍCH CHƠN THANH
Biên tập: Minh Thuận - Huệ Nghiêm - Nhuận Liên

Lời Giới Thiệu

Thượng tọa Chơn Thanh là người học trò xuất sắc của Hoà thượng chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phải khẳng định rằng Thượng tọa rất nhiệt tình đối với sinh hoạt của Giáo hội chúng ta.

Mặc dù tuổi đời chưa nhiều, nhưng Thượng tọa đã trang nghiêm thân tâm bằng hạnh nguyện gắn bó mật thiết với đạo, nên Thượng tọa đã được quý tôn túc tín nhiệm, cơ cấu vào Hội đồng Trị sự Trung ương và phân công làm Phó Văn phòng 2 Trung ương của Giáo hội.

Ngoài công việc trợ giúp Hoà thượng Chủ tịch điều hành Ban Tăng sự Trung ương, Thượng tọa còn tích cực tham gia hoạt động của Ban Hoằng pháp Trung ương, với cương vị là Trưởng ban Hoằng pháp của Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh và cũng là Phó ban Hoằng pháp Trung ương đặc trách Giảng sư đoàn Trung ương. Đồng thời, Thượng tọa cũng đảm trách công việc giảng dạy tại các trường Phật học.

Có thể nói sự đóng góp của Thượng tọa Chơn Thanh rất lớn cho Giáo hội chúng ta. Và đặc biệt là tấm lòng trong sáng và đạo đức của Thượng tọa đã ảnh hưởng rất tốt đến Tăng Ni, Phật tử.

Mặc dù ngày nay Thượng tọa không còn hiện hữu trên cõi đời, nhưng Tăng Ni và tín đồ, những ai đã từng học hoặc nghe pháp với Thượng tọa, đều ghi dấu trong tâm họ những ý tưởng tốt đẹp về hình bóng của Thượng tọa Chơn Thanh, một mẫu người tu sĩ thiết tha vì đạo.

Tập sách này lưu lại tấm lòng của quí Tăng Ni và học trò luôn nghĩ đến Thượng tọa Chơn Thanh. Tôi xin giới thiệu với Tăng Ni, Phật tử. Mong rằng quý vị đọc và tìm thấy được những nét, đặc sắc qua tình cảm trong sáng của các tác giả ghi lại trong tập sách này, để xây dựng cho mình đời sống tốt đẹp.

HT.THÍCH TRÍ QUẢNG
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương

 

TIỂU SỬ
Thượng tọa THÍCH CHƠN THANH

bongaonau-chonthanhUỷ viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Phó văn phòng 2 Trung ương GHPGVN
Phó ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN
Chánh thư ký ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM
Trưởng ban Hoằng pháp Thành hội Phật giáo TP.HCM

I. THÂN THẾ

Thượng tọa Thích Chơn Thanh thế danh: Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 03 năm 1948. Quê quán: xã Mỹ Xương, quận Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Thân phụ là cụ ông Phan Văn Vinh (pháp danh: Thiện Quang), thân mẫu là bà Nguyễn Thị Mến (pháp danh: Diệu Hỷ). Thượng tọa có sáu anh em, hai trai bốn gái, ngài là anh cả trong gia đình.

II. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân phúc hậu, giàu lòng tin Tam Bảo, nhất là đã có gieo trồng hạt giống Bồ Đề, nên khi cơ duyên đã đủ, nhân xuất gia đến thời kỳ bộc phát, Thượng tọa phát tâm xuất gia, đầu sư với cố hoà thượng Thích Thiện Thọ, trụ trì chùa Phước Lâm, Tân Uyên, Biên Hoà, này là tỉnh Bình Dương, được bổn sư ban pháp húy là Nhật Bé, hiệu Chơn Thanh, nối dòng Lâm Tế gia phổ đời thứ 41.

Sau khi xuất gia học đạo năm 1964, Thượng tọa đã được bổn sư cho phép theo học lớp Sơ đẳng Phật học tại Phật học đường Phổ Quang, Phú Nhuận, Gia Định do hoà thượng Thích Thiện Thông làm Giám viện.

Năm 1965, khi Phật học viện Huệ Nghiêm được thành lập, Thượng tọa đã trúng tuyển thi nhập học lớp Trung đẳng Phật học và theo học suốt chương trình từ 1965 đến 1971 dưới sự lãnh đạo điều hành của quí hoà thượng: Bửu Huệ, Thanh Từ, Thiền Tâm v.v…

Năm 1965, để đầy đủ giới pháp tu hành, thượng tọa đã được ban Giám đốc cho đăng đàn thọ giới Sa di tại Phật học viện Huệ Nghiêm, do hoà thượng Thích Thiện Hoà làm Đường đầu hoà thượng.

Năm 1969, đã viên mãn tam đàn giới pháp, dự vào hàng Tam Bảo, thượng tọa đã được hoà thượng bổn sư cho đăng đàn thọ giới tỳ kheo tại Đại giới đàn Miền Quảng Đức được tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm, Gia Định do hoà thượng Thích Hải Tràng làm Đường đầu hoà thượng.

Năm 1971, viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm chính thức khai giảng, do hoà thượng Thích Trí Tịnh làm Viện trưởng, hoà thượng Thích Bửu Huệ là Phó viện trưởng. Thượng tọa theo học suốt chương trình tám năm tại viện mãn khoá vào năm 1977. Tuy nhiên chương trình học kinh bộ vẫn tiếp tục đến năm 1991 do hoà thượng Thích Trí Tịnh hướng dẫn.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Trong thời gian theo học tại viện, nhất là năm 1969 - 1975, thượng tọa là một trong những cán bộ Phật giáo đi xây dựng cơ sở hạ tầng cho GHPG VNTN tại các tỉnh miền Tây và miền Đông theo chủ trương của Viện Hoá Đạo. Đồng thời là thành viên trong giảng sư đoàn Trung ương thuộc Tổng vụ Hoằng pháp do hoà thượng Thích Huyền Vi là Tổng vụ trưởng đi truyền bá chánh pháp khắp nơi.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chương trình Theo dấu chân xưa về cảnh cũ của hoà thượng viện chủ chùa Huệ Nghiêm đã đề ra, nhằm tạo thắng duyên trong sự giải thoát qua pháp môn niệm Phật vãng sinh. Thượng tọa đã cùng các pháp lữ luân phiên nhập thất tịnh tu, tránh duyên bớt cảnh, một lòng phát nguyện vãng sinh.

Năm 1977, trong kỳ họp cũng cố và ổn định lại nhân sự ban Quản trị của viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm và chùa Huệ Nghiêm, Thượng tọa được ban Quản trị và đại chúng cử làm thư ký của ban Quản trị cho đến ngày về cõi Phật.

Năm 1982, Thành Hội Phật Giáo TP.HCM được thành lập, thượng tọa được Thành Hội Phật Giáo bổ nhiệm làm Phó ban đại diện Phật giáo huyện Bình Chánh trong suốt hai nhiệm kỳ (1982-1990).

Năm 1990, tại đại hội Phật giáo TP.HCM lần thứ III, thượng tọa được Đại hội suy cử là Phó thư ký, Phó Văn phòng Thành Hội Phật Giáo, Uỷ viên Hoằng Pháp rồi Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo TP.HCM.

Cũng năm 1997, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV, thượng tọa được Đại hội suy cử làm Uỷ viên Hội đồng Trị sự GHPGVN kiêm nhiệm Phó ban Hoằng pháp Trung ương, đồng thời được Ban thư ký Hội đồng Trị sự cử làm Phó Văn phòng II Trung ương Giáo hội nhiệm kỳ IV (1997-2002) đến ngày viên tịch.

Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV, thượng tọa được suy cử làm Chánh thư ký ban Trị sự kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo TP.HCM cho đến ngày xả báo an tường.

Trên cương vị là sứ giả Như Lai và trách nhiệm hiện hữu, nhằm tục Phật tuệ đăng, báo Phật ân đức, thượng tọa đã không ngại gian lao, không từ khó nhọc, nỗ lực hoằng dương chánh pháp, giáo hoá học đồ, tăng ni phật tử qua các trường Phật học, các giảng đường thính pháp, những đạo tràng lớp giáo lý phổ thông v.v… đã giúp cho tăng ni sinh, phật tử đượm nhuần ân pháp nhũ, tăng trưởng căn lành, trở thành người hữu ích cho đạo pháp và xã hội.

IV. VIÊN TỊCH

Những tưởng trên đường phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sinh, thượng tọa còn đóng góp tiếp tục và dài lâu hơn nữa theo nhựa sống dâng trào của người con Phật và trưởng tử của Như Lai, nào ngờ đâu, một phút vô thường, sau cơn bệnh, thượng tọa đã từ bỏ huyễn thân, thu thần viên tịch vào lúc 0 giờ 20 phút ngày 22 tháng 07 năm 2002 (nhằm ngày 13/06/Nhâm Ngọ), trụ thế 55 năm, trải qua 34 mùa an cư kiết hạ.

Thế là thượng tọa đã tạm từ bỏ sự hiện hữu của mình trong kiếp nhân sinh hiện tại trở về với thế giới Chân Như nơi xuất phát đầu tiên của người con Phật, của vạn loại hàm linh. Tuy nhiên, dù hôm nay thượng tọa không còn hiện hữu giữa cuộc đời, nhưng công đức và đạo nghiệp của thượng tọa vẫn còn khắc ghi trong tâm khảm của tất cả những người con Phật cũng như trong trang sử của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.


Chân thành cảm ơn TT Thích Thiện Bảo đã gởi tặng tập sách này.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/02/2013(Xem: 11424)
Mới đây các nhà khảo cổ Mỹ và Canada đưa ra chứng cứ cho rằng Phật giáo đã được truyền vào Mỹ trước khi ông Columbus tìm ra châu Mỹ. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được hiện nay thì Phật giáo chỉ thật sự có mặt tại Mỹ sau kỳ Đại hội Tôn giáo Thế giới tổ chức tại bang Chicago vào năm 1893. Nhưng ai là người có công truyền bá và làm lớn mạnh "hạt giống Bồ đề" trên đất Mỹ? Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số nhà sư cư sĩ người châu Á, những người tiên phong có công đặt nền móng xây dựng ngôi nhà chánh pháp trên đất Mỹ.
10/02/2013(Xem: 12714)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24066)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10073)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8594)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8486)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8372)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9518)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9798)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14991)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói: