Lời giới thiệu - Tiểu sử

05/06/201112:01(Xem: 12723)
Lời giới thiệu - Tiểu sử

BÓNG ÁO NÂU
TẬP SÁCH VỀ CUỘC ĐỜI THƯỢNG TỌA THÍCH CHƠN THANH
Biên tập: Minh Thuận - Huệ Nghiêm - Nhuận Liên

Lời Giới Thiệu

Thượng tọa Chơn Thanh là người học trò xuất sắc của Hoà thượng chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phải khẳng định rằng Thượng tọa rất nhiệt tình đối với sinh hoạt của Giáo hội chúng ta.

Mặc dù tuổi đời chưa nhiều, nhưng Thượng tọa đã trang nghiêm thân tâm bằng hạnh nguyện gắn bó mật thiết với đạo, nên Thượng tọa đã được quý tôn túc tín nhiệm, cơ cấu vào Hội đồng Trị sự Trung ương và phân công làm Phó Văn phòng 2 Trung ương của Giáo hội.

Ngoài công việc trợ giúp Hoà thượng Chủ tịch điều hành Ban Tăng sự Trung ương, Thượng tọa còn tích cực tham gia hoạt động của Ban Hoằng pháp Trung ương, với cương vị là Trưởng ban Hoằng pháp của Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh và cũng là Phó ban Hoằng pháp Trung ương đặc trách Giảng sư đoàn Trung ương. Đồng thời, Thượng tọa cũng đảm trách công việc giảng dạy tại các trường Phật học.

Có thể nói sự đóng góp của Thượng tọa Chơn Thanh rất lớn cho Giáo hội chúng ta. Và đặc biệt là tấm lòng trong sáng và đạo đức của Thượng tọa đã ảnh hưởng rất tốt đến Tăng Ni, Phật tử.

Mặc dù ngày nay Thượng tọa không còn hiện hữu trên cõi đời, nhưng Tăng Ni và tín đồ, những ai đã từng học hoặc nghe pháp với Thượng tọa, đều ghi dấu trong tâm họ những ý tưởng tốt đẹp về hình bóng của Thượng tọa Chơn Thanh, một mẫu người tu sĩ thiết tha vì đạo.

Tập sách này lưu lại tấm lòng của quí Tăng Ni và học trò luôn nghĩ đến Thượng tọa Chơn Thanh. Tôi xin giới thiệu với Tăng Ni, Phật tử. Mong rằng quý vị đọc và tìm thấy được những nét, đặc sắc qua tình cảm trong sáng của các tác giả ghi lại trong tập sách này, để xây dựng cho mình đời sống tốt đẹp.

HT.THÍCH TRÍ QUẢNG
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương

 

TIỂU SỬ
Thượng tọa THÍCH CHƠN THANH

bongaonau-chonthanhUỷ viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật Giáo Việt Nam
Phó văn phòng 2 Trung ương GHPGVN
Phó ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN
Chánh thư ký ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM
Trưởng ban Hoằng pháp Thành hội Phật giáo TP.HCM

I. THÂN THẾ

Thượng tọa Thích Chơn Thanh thế danh: Phan Văn Bé, sinh ngày 13 tháng 03 năm 1948. Quê quán: xã Mỹ Xương, quận Cao Lãnh, tỉnh Kiến Phong, nay là xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Thân phụ là cụ ông Phan Văn Vinh (pháp danh: Thiện Quang), thân mẫu là bà Nguyễn Thị Mến (pháp danh: Diệu Hỷ). Thượng tọa có sáu anh em, hai trai bốn gái, ngài là anh cả trong gia đình.

II. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân phúc hậu, giàu lòng tin Tam Bảo, nhất là đã có gieo trồng hạt giống Bồ Đề, nên khi cơ duyên đã đủ, nhân xuất gia đến thời kỳ bộc phát, Thượng tọa phát tâm xuất gia, đầu sư với cố hoà thượng Thích Thiện Thọ, trụ trì chùa Phước Lâm, Tân Uyên, Biên Hoà, này là tỉnh Bình Dương, được bổn sư ban pháp húy là Nhật Bé, hiệu Chơn Thanh, nối dòng Lâm Tế gia phổ đời thứ 41.

Sau khi xuất gia học đạo năm 1964, Thượng tọa đã được bổn sư cho phép theo học lớp Sơ đẳng Phật học tại Phật học đường Phổ Quang, Phú Nhuận, Gia Định do hoà thượng Thích Thiện Thông làm Giám viện.

Năm 1965, khi Phật học viện Huệ Nghiêm được thành lập, Thượng tọa đã trúng tuyển thi nhập học lớp Trung đẳng Phật học và theo học suốt chương trình từ 1965 đến 1971 dưới sự lãnh đạo điều hành của quí hoà thượng: Bửu Huệ, Thanh Từ, Thiền Tâm v.v…

Năm 1965, để đầy đủ giới pháp tu hành, thượng tọa đã được ban Giám đốc cho đăng đàn thọ giới Sa di tại Phật học viện Huệ Nghiêm, do hoà thượng Thích Thiện Hoà làm Đường đầu hoà thượng.

Năm 1969, đã viên mãn tam đàn giới pháp, dự vào hàng Tam Bảo, thượng tọa đã được hoà thượng bổn sư cho đăng đàn thọ giới tỳ kheo tại Đại giới đàn Miền Quảng Đức được tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm, Gia Định do hoà thượng Thích Hải Tràng làm Đường đầu hoà thượng.

Năm 1971, viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm chính thức khai giảng, do hoà thượng Thích Trí Tịnh làm Viện trưởng, hoà thượng Thích Bửu Huệ là Phó viện trưởng. Thượng tọa theo học suốt chương trình tám năm tại viện mãn khoá vào năm 1977. Tuy nhiên chương trình học kinh bộ vẫn tiếp tục đến năm 1991 do hoà thượng Thích Trí Tịnh hướng dẫn.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Trong thời gian theo học tại viện, nhất là năm 1969 - 1975, thượng tọa là một trong những cán bộ Phật giáo đi xây dựng cơ sở hạ tầng cho GHPG VNTN tại các tỉnh miền Tây và miền Đông theo chủ trương của Viện Hoá Đạo. Đồng thời là thành viên trong giảng sư đoàn Trung ương thuộc Tổng vụ Hoằng pháp do hoà thượng Thích Huyền Vi là Tổng vụ trưởng đi truyền bá chánh pháp khắp nơi.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chương trình Theo dấu chân xưa về cảnh cũ của hoà thượng viện chủ chùa Huệ Nghiêm đã đề ra, nhằm tạo thắng duyên trong sự giải thoát qua pháp môn niệm Phật vãng sinh. Thượng tọa đã cùng các pháp lữ luân phiên nhập thất tịnh tu, tránh duyên bớt cảnh, một lòng phát nguyện vãng sinh.

Năm 1977, trong kỳ họp cũng cố và ổn định lại nhân sự ban Quản trị của viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm và chùa Huệ Nghiêm, Thượng tọa được ban Quản trị và đại chúng cử làm thư ký của ban Quản trị cho đến ngày về cõi Phật.

Năm 1982, Thành Hội Phật Giáo TP.HCM được thành lập, thượng tọa được Thành Hội Phật Giáo bổ nhiệm làm Phó ban đại diện Phật giáo huyện Bình Chánh trong suốt hai nhiệm kỳ (1982-1990).

Năm 1990, tại đại hội Phật giáo TP.HCM lần thứ III, thượng tọa được Đại hội suy cử là Phó thư ký, Phó Văn phòng Thành Hội Phật Giáo, Uỷ viên Hoằng Pháp rồi Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo TP.HCM.

Cũng năm 1997, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV, thượng tọa được Đại hội suy cử làm Uỷ viên Hội đồng Trị sự GHPGVN kiêm nhiệm Phó ban Hoằng pháp Trung ương, đồng thời được Ban thư ký Hội đồng Trị sự cử làm Phó Văn phòng II Trung ương Giáo hội nhiệm kỳ IV (1997-2002) đến ngày viên tịch.

Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IV, thượng tọa được suy cử làm Chánh thư ký ban Trị sự kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Thành Hội Phật Giáo TP.HCM cho đến ngày xả báo an tường.

Trên cương vị là sứ giả Như Lai và trách nhiệm hiện hữu, nhằm tục Phật tuệ đăng, báo Phật ân đức, thượng tọa đã không ngại gian lao, không từ khó nhọc, nỗ lực hoằng dương chánh pháp, giáo hoá học đồ, tăng ni phật tử qua các trường Phật học, các giảng đường thính pháp, những đạo tràng lớp giáo lý phổ thông v.v… đã giúp cho tăng ni sinh, phật tử đượm nhuần ân pháp nhũ, tăng trưởng căn lành, trở thành người hữu ích cho đạo pháp và xã hội.

IV. VIÊN TỊCH

Những tưởng trên đường phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sinh, thượng tọa còn đóng góp tiếp tục và dài lâu hơn nữa theo nhựa sống dâng trào của người con Phật và trưởng tử của Như Lai, nào ngờ đâu, một phút vô thường, sau cơn bệnh, thượng tọa đã từ bỏ huyễn thân, thu thần viên tịch vào lúc 0 giờ 20 phút ngày 22 tháng 07 năm 2002 (nhằm ngày 13/06/Nhâm Ngọ), trụ thế 55 năm, trải qua 34 mùa an cư kiết hạ.

Thế là thượng tọa đã tạm từ bỏ sự hiện hữu của mình trong kiếp nhân sinh hiện tại trở về với thế giới Chân Như nơi xuất phát đầu tiên của người con Phật, của vạn loại hàm linh. Tuy nhiên, dù hôm nay thượng tọa không còn hiện hữu giữa cuộc đời, nhưng công đức và đạo nghiệp của thượng tọa vẫn còn khắc ghi trong tâm khảm của tất cả những người con Phật cũng như trong trang sử của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.


Chân thành cảm ơn TT Thích Thiện Bảo đã gởi tặng tập sách này.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/05/2021(Xem: 5809)
Đệ Tử chúng con, hàng hậu học Tỳ Kheo Thích Minh Thế- Huế thuộc Môn Phong Tổ Đình Từ Hiếu, được nhân duyên diện kiến Ngài 3 lần, một lần Chùa Bát Nhã, Lúc ở Chùa Hải Quang, trong mùa Huý Kỵ Ngài Nhật Lệ. Năm 2007-2008,2009,2010. Hay tại Chùa Quảng Hương Già Lam, nhân Huý kỵ Tôn Sư Thượng Trí Hạ Thủ- 2012-2014, tất cả đều ở Sài Gòn. Diện kiến Ngài là một lần học được tâm hạnh Khiêm cung, luôn lấy pháp Mật chú mà gia trì. Lấy giới luật mà dụng tu, lấy công phu trì niệm Pháp Hoa, Sám Lễ, Trì Chú Niệm Phật A Di Đà, để Huân nhiên chủng tánh. Diện kiến Ngài lúc nào cũng có chiếc gậy bên mình, vì đôi chân có phần chưa tốt, nên từ đó Diện kiến Ngài là đều hi hữu. Ngài từng dạy tại Trường Bồ Đề, nơi trú xứ Buôn Ma Thuột, giữ những lời dạy sâu sắc, tiếp nối truyền thừa lưu lại đàn hậu tấn về sau, các vị được thọ ân từ Ngài, giờ này cũng chấp cánh bay xa bên xứ ngoài, hay trong xứ, làm niềm vui an tịnh cho chính mình ở Bồ đề Tại xứ Buôn Mê. Ngài từng ngồi hành pháp
25/05/2021(Xem: 13452)
Đã nhiều năm rồi, Phật Tử Việt Nam cử hành đại lễ trong niềm hân hoan tự hào về một ngày lễ Vesak trọng đại được xưng danh một cách trang trọng là "Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc." Phật giáo là một trong bốn tôn giáo lớn của nhân loại. Con số Phật Tử dù vậy cũng chỉ khoảng 400-600 triệu. Với con số khiêm nhường đó, tiếng nói của Phật giáo không có ảnh hưởng gì đáng kể trong các quyết định của Liên Hiệp Quốc về vận mạng của các dân tộc trên thế giới. Phật Tử Việt Nam chính thức đón nhận "Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc" từ năm 2008. Từ đó đến nay, những phát biểu bởi các đại biểu từ nhiều nước tán dương Đức Phật quả là quá nhiều, nhưng chưa có bất cứ đóng góp thiết thực đáng kể nào cho khát vọng hòa bình của nhiều dân tộc bị áp bức, bóc lột bởi chính quyền của nước mình; bị đe dọa bởi tham vọng bá quyền của nước lớn.
22/05/2021(Xem: 10224)
Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch thế danh Nguyễn Thanh Bình, sinh năm Tân Mùi (1931) tại thôn Mỹ Duyệt Hạ, xã Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Như Hưng, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Huấn, Trưởng lão Hòa thượng là con thứ hai trong bốn anh em (hai trai hai gái). Lúc lên 11 tuổi (1942), được sự cho phép của song thân, Hòa thượng đến chùa Đặng Lộc đảnh lễ ngài Hòa thượng Thích Định Tuệ xin được xuất gia và được bổn sư ban cho pháp danh Lệ Chân, pháp tự Thiện Hạnh.
16/05/2021(Xem: 18913)
Nhận xét rằng, Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh gấp của lịch sử nhân loại. Đại dịch Covid-19 đã khép kín mỗi cá nhân trong một không gian chật hẹp, cách ly xã hội, cô lập cá nhân, cách ly cả những người thân yêu. Nó đã tạo ra những khủng hoảng tâm lý trầm trọng trong nhiều thành phần xã hội. Một số đông bị quẫn bức, không thể tự kềm chế, bỗng chốc trở thành con người bạo lực, gieo kinh hoàng cho xã hội. Một số khác, có lẽ là số ít, mà phần lớn trong đó là thanh thiếu niên, khởi đầu cũng chất đầy oán hận trong lòng, nhưng rồi trước ngưỡng sinh tử sự đại, tự mình phấn đấu tự kềm chế, cuối cùng đã khám phá chính mình, trong trình độ nào đó, với những giá trị nhân sinh chỉ có thể tìm thấy trong những cơn tư duy thầm lặng. Giá trị nhân sinh không thể tìm thấy bằng những cao trào kích động của tuổi trẻ. Thế hệ ấy sẽ làm thay đổi hướng đi của lịch sử Đông Tây qua hai nghìn năm kỷ nguyên văn minh Cơ-đốc, khi mà tín đồ có thể liên hệ trực tiếp với đấng Chí Tôn của mình qua mạng truyền
30/04/2021(Xem: 13338)
Thiền Uyển Tập Anh chép Đại sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu (933 – 1011) tu ở chùa Phật Đà, Thường Lạc nay là chùa Đại Bi núi Vệ Linh Sóc Sơn, Hà Nội. Ngài thuộc thế hệ thứ 4 Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ngài người hương Cát Lợi huyện Thường Lạc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội, thuộc dòng dõi Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền). Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Thiền sư Ngô Chân Lưu tên huý là Xương Tỷ, anh trai Thái tử - Sứ quân Ngô Xương Xý, con Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, cháu đích tôn của Ngô Vương Quyền. Ngài dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tánh tình phóng khoáng chí khí cao xa, có duyên với cửa Thiền từ năm 11 tuổi.
23/04/2021(Xem: 7300)
Hoà thượng Thích Từ Hương thế danh là Nguyễn Mạnh Trừng. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1928 tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.Trong một gia đình phú nông. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Tiêm. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chai pháp danh Nhật Cang. Từ lúc ra đời cho đến năm 1954, Hoà thượng ở tại quê nhà theo học tiểu học và sinh sống tại địa phương.
23/04/2021(Xem: 7105)
Hòa thượng Đạo hiệu Thích Thiện Duyên, thế danh Võ Đình Như, sinh ngày 20/10/1926 tại thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài là con thứ 3 trong gia đình. Thân phụ và thân mẫu của Hòa thượng là cụ ông Võ Toản pháp danh Nhựt Toàn và cụ Bà Đặng Thị Chức pháp danh Diệu Phát. Gia đình Ngài có truyền thống Phật giáo thuần thành. Với túc duyên nhiều đời, từ nhỏ, Ngài thường được bà nội dẫn đến chùa làng tụng kinh niệm Phật. Gặp lúc Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hòa từ chùa Trà Can, Tháp Chàm – Phan Rang về tổ chức lễ truyền Tam Quy Ngũ giới tại chùa Tịnh An, Phù Cát, Bình Định, Ngài sớm thọ Tam quy Ngũ giới trong dịp này.
11/04/2021(Xem: 12566)
Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Kính bạch Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni, Kính thưa tất cả quý Phật tử trong và ngoài nước, Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng xin trân trọng kính báo: Thượng Toạ Thích Tuệ Giác, Hội trưởng Hội Thiền Học Việt Nam Hải Ngoại, Viện trưởng Tổ Đình Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Đã viên tịch vào lúc 4:30 chiều Thứ Bảy ngày 10 tháng 4 năm 2021 (nhằm 29 tháng 2 năm Tân Sửu) Tại Thiền viện Trúc Lâm Đại Đăng, Quận hạt San Diego, CA, Hoa Kỳ. Trụ thế 62 năm, 31 Hạ Lạp Chương trình Tang Lễ của Thượng toạ Thích Tuệ Giác sẽ được kính báo trong thời gian sớm nhất. Chúng con nhất tâm xin cung thỉnh Chư Tôn Thiền Đức và mời gọi quý Phật tử cùng chung lòng cầu nguyện. Thay mặt BTC Tang Lễ xin được trân trọng kính báo. Tỳ kheo Thích Tuệ Tỉnh
31/03/2021(Xem: 7900)
Trễ hẹn trong tang lễ, rồi cúng 21 ngày và 49 ngày cố nhạc sĩ Hằng Vang ( 1936 – 2021 ), một số Anh Chị em cựu huynh trưởng giữ đúng lời hứa, rất uy tín, lòng tự dăn lòng rằng nhất định sẽ họp mặt để cùng nhau thắp cho vị nhạc sĩ nén hương tưởng nhớ, tri ân những dòng nhạc mà phần lớn đã theo chân nhiều thế hệ Gia Đình Phật Tử ( GĐPT ) và các đoàn thể thanh thiếu niên Phật giáo, nối tiếp nhau cho đến tận hôm nay. Và ngày đó phải là ngày cúng chung thất 49 ngày, nhất định không hẹn xa xăm nửa. Sau khi loại trừ nhiều trở ngại, cộng vào nh74ng thuận duyên chung, tất cả đã chọn ngày chủ nhật 21/03/2021 9 nhằm ngày mùng 9 tháng hai năm Tân Sửu vừa rồi
10/03/2021(Xem: 8002)
Cố Hòa Thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh; nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán. Ngài lâm thế ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận III (nay là phường An Hải, quận Sơn Trà), thành phố Đà Nẵng; chánh quán làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Ngài là trưởng nam trong một gia đình có năm anh em gồm ba trai và hai gái. Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tần tảo nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được mẫu thân gởi đến Thầy Tư Tri (Như Tín) – trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ – nhận cho nhập Chúng tu học.