Hoài Niệm Thầy - Thị Lộc

28/09/201010:35(Xem: 10024)
Hoài Niệm Thầy - Thị Lộc

Hoài Niệm Thầy

Đệ tử Thị Lộc

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Nam Mô Vĩnh Đức Đường Thượng Từ Lâm Tế Chúc Thánh Tứ Thập Nhứt Thế Húy Thượng NHƯ Hạ HẢO Tự GIẢI TÂM Hiệu AN ĐỨC, Đạo Hiệu Thượng QUẢNG Hạ TÂM. Lê Công Hòa Thượng Ân Sư Tân Viên Tịch Giác Linh.

Ngưỡng bái bạch Giác linh Thầy !

“Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

Nghĩa Ân sư muôn kiếp khó đáp đền”

Bạch Thầy! Dẫu biết “sinh là để sinh, tử là để tử”. Có hội ngộ ắc sẽ chia ly. Đó là chân lý muôn đời bất diệt, không một ai trên thế gian này có thể chống trả lại quy luật sinh tử vô thường, nhưng có những cái chia ly đã để lại cho đời muôn vàn nỗi tiếc thương, hối hận, ăn năn.

Bạch Thầy! Con tin rằng Giác linh Thầy sẽ không giận, không trách con vì gọi Thầy bằng Thầy, mà con tin rằng Thầy của con cũng hỷ xả cho con điều đó.

Nhớ xưa kia, khi con còn là một đứa trẻ thơ từ vùng quê nghèo khổ, tìm đến Thầy để xin được xuất gia tu học, để thực hiện ước mơ “tu học và làm một vị Tăng sỹ”, Thầy đã từ bi xuất gia cho con, lo lắng cho con từng ly từng tý. Thầy cho con cái ăn, cái mặc, và cái chữ. Thầy cho con cái lối sống đạo hạnh. Thuở hàn vi, ngày ngày Thầy phải đi xe đạp để đi làm việc trong Ban đại diện Phật giáo nhưng Thầy cũng tranh thủ về để dùng quả đường trưa với các con; rồi Thầy lại đi làm, để chiều tối lại về cho kịp giờ Tịnh Độ. Đêm đến khi chúng con chìm vào giấc ngủ thì Thầy lại đi lui, đi tới từng phòng một, để coi đứa con nào ngủ mà không bỏ mùn, không đắp mền, Thầy sửa từng cái mền, cái mùn cho các con không bị muỗi cắn sinh bệnh. Khi các con đến ngày đóng học phí, Thầy kêu lên từng người một dặn dò lo tu học chu đáo. Nhưng các con đâu có biết rằng, từng ngàn Thầy phải xin Phật tử, phải vay mượn để nuôi các con. Nhưng tuổi thơ của con, của các anh em khác, chưa hiểu được nỗi khổ tâm dằn vặt của Thầy. Thầy dường như luôn canh cánh nỗi suy tư làm sao để nuôi đàn con nhỏ dại nên người. Những mùa hạ khi mà cơn mưa xối xả xé tan những tấm tôn, những tấm lá lợp phòng Tăng, Thầy đã cùng chúng con tát từng vũng nước, cột lại từng miếng tôn. Thầy trò vui vẻ mà làm, thỉnh thoảng Thầy lại nói vài ba câu làm cho cả đại chúng cười ồ, đó là những lúc ít ỏi con thấy Thầy cười…

Trong rất nhiều kỷ niệm, mà con tin rằng khó có giấy mực nào viết hết. Tình thương của Thầy, sự che chở, bảo bọc của Thầy đã ăn sâu vào tâm thức của con, và chỉ có các con của Thầy, và Thầy là cảm nhận được nỗi yêu thương đó mà thôi !

Những năm đầu của thập niên 90, những căn bệnh hành hạ các con của Thầy, Thầy như ngồi trên đóng lửa, chạy đôn chạy đáo để tìm những y bác sỹ hảo tâm về chùa khám chửa bệnh. Đi kêu gọi những Phật tử cúng dường sữa, bột và đường cho các con vì các con còn quá nhỏ. Một khoảng thời gian dài, Tu viện không có thức ăn. Chỉ có vài bao gạo, anh em huynh đệ chúng con đã nấu cơm, nấu nước muối để làm nước tương ăn cho qua bửa, những buổi quả đường sáng chỉ là vài củ khoai. Thầy cũng ngồi ăn cùng chúng con, Thầy thấy các con quây quần bên những củ khoai ấm áp, Thầy vui và Thầy còn cho phần khoai của Thầy cho các con… Nhớ lắm Thầy ơi!

Con rất nhớ Thầy và cảm thấy có lỗi với Thầy rất nhiều vì không đi trọn con đường Thầy mong đợi, không nghe Thầy khi Thầy còn sinh tiền. Thầy thấy thương con khi ra đời lăn lộn vất vả kiếm sống qua ngày. Con quỳ bên Thầy tâm sự thì Thầy khóc, con khóc… Thầy khóc vì các con không hiểu, không làm Thầy vui. Con khóc vì thấy Thầy vì các con mà khóc. Và cảm nhận được nỗi khổ tâm của Thầy khi Thầy suy tư lo lắng cho các con dù các con không còn áo bạc nâu sồng.

Tất cả những kỷ niệm về Thầy, giờ đây nó sống lại nhiều lắm, cứ nghĩ đến Thầy là con không thể kiềm chế cảm xúc tầm thường của thế gian, những giọt lệ cứ như vậy mà tuông trào. Thầy ơi! Thầy đã đi xa lắm rồi đúng không Thầy, Thầy không còn ở bên các con của Thầy nữa. Tất cả những kỷ niệm buồn vui của Thầy và các con sẽ ở mãi trong ký ức của con “một ngày áo vải nâu sồng, muôn đời chữ hiếu trả công ơn Thầy”. Con chưa một ngày làm Thầy vui, con chưa một lần làm Thầy cảm thấy mãn nguyện. Nhưng con hứa, con hứa trước Giác linh Thầy “con sẽ sống và học theo hạnh của Thầy” để Giác Linh của Thầy được phần hoan hỷ, để thâm tâm của con được nhẹ nhàng mỗi khi nghĩ về Thầy. Nguyện cầu mười phương Chư Phật chứng giám cho lời hứa tận thâm tâm của con đối với Giác linh của Thầy.

“Hạc vàng cất cánh bay xa

Thiền môn thất chúng lệ nhòa trong tâm”

Đạo hạnh, đức hạnh, lòng vị tha, tinh thần một đời vì “đạo pháp dân tộc”, vì sự nghiệp “Tiếp dẫn hậu lai, Hoằng dương chánh pháp, Báo Phật ân đức”,tất cả những gì thuộc về Thầy là như vậy. Cuộc đời của Thầy sinh ra là để phụng sự cho Đạo pháp, cho nhân sinh, là để đem đến cho người khác sự an lạc, tự tại và giải thoát, đem trí tuệ đến cho hàng Tăng sỹ trẻ, đem Đạo pháp đến muôn người. Thầy chưa một lần quản ngại khó khăn, để hoàn thành tâm nguyện… Nhưng kể từ đây, chốn Vĩnh Đức sẽ không còn hình bóng thân thương của Thầy, không còn có cơ hội cho các con nhìn Thầy với đôi mắt uy nghiêm nhưng đầy tình thương bao la, không còn những cái “xố” bạt tai của Thầy, không còn những khi Thầy ăn bánh tráng Thầy bẻ cho con một miếng ăn với Thầy, không còn những lúc Thầy trò tâm sự… Không ai chắp cánh cho những ước mơ của chúng con để được bay xa, không ai dìu dắt chúng con khi chúng con lầm lỗi, không ai soi đường chỉ lối trong cõi Ta bà u minh này nữa… Tất cả là kỷ niệm, và tất cả chúng con đều khắc ghi trong lòng những lời Thầy dạy khi Thầy còn trên thế gian, luôn tưởng niệm về Thầy và nguyện cầu Giác Linh Thầy!

“Cao đăng Phật Quốc, lai đáo Ta Bà hoằng đại nguyện”

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Nam Mô Vĩnh Đức Đường Thượng Từ Lâm Tế Chúc Thánh Tứ Thập Nhứt Thế Húy thượng Như hạ Hảo. Tự Giải Tâm. Hiệu An Đức. Thượng Quảng Hạ Tâm Đạo Hiệu. Lê Công Hòa Thượng Ân Sư Tân Viên Tịch Giác Linh

----------------------------

Hạnh Tuệ xin gởi tặng Thị Lộc tấm hình này, để nỗi nhớ một thời làm Điệu lùa về...

Hanh_Tue1-content

Thị Lộc (bên trái), Thị Thông (Hạnh Tuệ), Thị Vinh (bên phải)Cả ba huynh đệ mình cùng ở một làng, cùng đi tu một ngày, cùng học một lớp…Vậy mà giờ đây, mỗi đứa một phương trời, mỗi người một chí nguyện…
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2014(Xem: 10654)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 12758)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 17222)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 11021)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 26005)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 15458)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 20903)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.
09/08/2014(Xem: 15628)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
03/08/2014(Xem: 9084)
Lễ nhập quan được cử hành tại Bình Quang Ni tự vào lúc 18g00 cùng ngày. Lễ phúng viếng bắt đầu từ 8g00 ngày 9-7 Giáp Ngọ (4-8-2014). Lễ truy niệm được cử hành vào lúc 4g00 sáng nay, 12-7 Giáp Ngọ (7-8-2014); lễ phụng tống kim quan vào lúc 6g00 sáng cùng ngày. Nhục thân cố Ni trưởng tới đài hỏa táng núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm lễ trà-tỳ. Tro cốt của Ni trưởng sẽ được nhập bảo tháp tại Bình Quang Ni tự. Được biết, cố NT.Thích nữ Huyền Tông thế danh Dương Thị Ngọc Cúc, sinh năm 1918 tại P.Đức Thắng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì sớm giác ngộ lý vô thường, nên năm 17 tuổi (1936), Ni trưởng cùng người cô của mình là cố Ni trưởng Huyền Học quyết tâm vào Sài Gòn xuất gia với cố Ni trưởng Diệu Tịnh tại chùa Hải Ấn. Đến năm 1940, Ni trưởng được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Vạn An (tỉnh Sa Đéc). Suốt hơn 2/3 thế kỷ tu học và hành đạo, Ni trưởng đã tham gia vào phong trào đấu tranh yêu nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1945, đấu tranh đòi quyền bình đẳng tô
31/07/2014(Xem: 21770)
An Cư Kiết Đông đã qua, Nhưng lời thuyết pháp đậm đà vẫn vương Thích Ca tái thế tình thương Thầy về giảng Pháp con nương nơi Thầy