Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Trần Nhân Tông Vị Anh Hùng Dân Tộc Khai Sáng Tư Tưởng Phật Giáo Việt Nam

10/08/201100:56(Xem: 5791)
Trần Nhân Tông Vị Anh Hùng Dân Tộc Khai Sáng Tư Tưởng Phật Giáo Việt Nam


TRẦN NHÂN TÔNG
VỊ ANH HÙNG DÂN TỘC KHAI SÁNG TƯ TƯỞNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Trần Lưu

Đã có 92 tham luận của chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước gửi đến cuộc hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông hôm qua 26-11, tại thị xã Uông Bí (Quảng Ninh).

Nội dung các tham luận tập trung vào những vấn đề: vua Trần Nhân Tông và thời đại; vua Trần Nhân Tông, người anh hùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; di sản văn hóa, tư tưởng thời Trần và của vua Trần Nhân Tông...

Bậc minh quân kỳ tài

Tại hội thảo, các tham luận đều tập trung làm rõ vua Trần Nhân Tông là một bậc minh quân kỳ tài, đã góp phần tô thêm trang sử vàng chói lọi của dân tộc thời nhà Trần nói riêng và dân tộc nói chung, với việc lãnh đạo quân dân 2 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông (1285 và 1288), tạo lập đỉnh cao nền văn minh Đại Việt lúc bấy giờ.

Theo Thượng tọa Thích Quảng Tùng (Hải Phòng), vua Trần Nhân Tông đã được thừa hưởng một truyền thống quý báu yêu nước, thương dân, mến mộ thiền học từ ông nội là vua Trần Thái Tông và cha là vua Trần Thánh Tông.
Trong thời gian cầm quyền của mình, ông không những thể hiện là một nhà chính trị lý tưởng, nhà quân sự xuất sắc mà còn là một nhà ngoại giao, nhà kinh tế, nhà văn hóa lớn. Vua Trần Nhân Tông có nhiều biện pháp cải cách, phát triển nông nghiệp, thương mại và thủ công nghiệp, giúp người dân có đầy đủ cái ăn, cái mặc.

Ông cũng có nhiều bài thơ, văn bất hủ và lần đầu tiên các chiếu chỉ của triều đình không những đọc bằng tiếng Hán, mà còn phải đọc bằng tiếng Việt để mọi tầng lớp nhân dân đều hiểu biết. Trong chiến trận, vua đã luôn sát cánh với Trần Hưng Đạo để đốc quân, khi thắng trận bắt được tướng giặc và binh lính, Trần Nhân Tông đều cho tiếp đãi tử tế, cho thuyền, lương thực để về nước...

Nhiều tham luận đã phân tích khá kỹ các hoạt động ngoại giao có tính “chiến lược” do vua Trần Nhân Tông khởi xướng. Trong đó, chú trọng xây dựng mối quan hệ hòa bình với phương Bắc và phương Nam.
Từ đó góp phần nâng cao vị trí, vai trò của Đại Việt trong khu vực, đồng thời giữ vững chủ quyền, độc lập quốc gia. Sau này, khi đã xuất gia tu hành, chính ông đã chủ trương mai mối để gả con gái của mình là Huyền Trân Công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân, từ đó mở mang thêm bờ cõi Đại Việt với 2 châu Ô và Lý.

Một số tham luận đã chứng minh, ngay cả lúc đang ở ngôi hoặc sau khi đi tu, vua không bao giờ xao lãng công việc triều chính, chăm lo cho dân cho nước tới giờ phút cuối cùng. Vua đã đi khắp nơi trong nước để dẹp bỏ quan dâm, quan tham khiến dân đói rách, lầm than cực khổ, đem 10 điều thiện và giới Bồ Tát giảng bày cho dân chúng làm theo, gia đình và xã hội nhờ đó được yên bình, bớt loạn lạc.

Với vai trò Thái thượng hoàng sau khi đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, ông vẫn luôn rất quan tâm, lo lắng đến đời sống thường ngày của người dân; thường xuyên thị sát, đốc thúc các hoạt động để phát triển kinh tế xã hội.

Khai sáng Phật giáo Việt Nam

Trong lá thư gửi đến hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Trong thời đại nhà Trần, lần đầu tiên xuất hiện một vị vua – vua Trần Nhân Tông đã rời bỏ ngai vàng đi vào nhân dân, xuất gia tu hành đạo Phật, sáng tạo nên một trường phái Phật giáo mới – Phật giáo Việt Nam. Trần Nhân Tông đúng là một vị vua văn võ song toàn, một vị Phật hoàng có công lao to lớn đối với dân tộc”. Đây là quan điểm được hầu hết các tham luận tại hội thảo đề cập và đề cao.

Năm 41 tuổi, sau 14 năm ở ngôi vua và 5 năm làm Thái thượng hoàng, Trần Nhân Tông chính thức xuất gia tu hành tại chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử (Quảng Ninh), lấy đạo hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, về sau đổi làm Trúc Lâm Đại Đầu Đà, kế thừa Huệ Tuệ Thiền Sư làm tổ thứ 6 của Sơn môn Yên Tử.

Về sau, Trần Nhân Tông đã đổi tên Sơn môn Yên Tử thành Trúc Lâm Thiền phái, tự mình làm Đệ nhất Tổ với mục đích quy tụ ý chí, sức mạnh của toàn dân tộc hướng về một thế giới tâm linh thuần thiện, thuần mỹ, từ đó hóa thành tinh thần đoàn kết của cả dân tộc Đại Việt. Ông là người duy nhất ở Việt Nam được gọi là Phật hoàng.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, vua Trần Nhân Tông khéo léo và tài tình ở chỗ thống nhất được các thiền phái Phật giáo ở nước ta lúc bấy giờ thành một, để nước Đại Việt có một đạo Phật đủ tiềm lực tôn giáo (thiền phái Trúc Lâm), phát triển nội lực cá nhân và tập thể, có thể làm lợi ích cho bản thân mình và đồng loại, trong đó có lợi nhiều mặt cho quốc gia và xã hội.

Chính vì vậy, Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông không chỉ được giới phật tử tôn thờ mà xã hội, lịch sử nước Việt Nam cũng ghi nhận và tôn vinh.

Hòa thượng Thích Thiện Nhơn (Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam) khẳng định: Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông sáng lập là thiền giáo song hành, nên không những đã thể hiện trọn vẹn tinh thần Phật giáo Việt Nam, mà còn phù hợp ý chỉ chư Phật và lòng người. Qua đó, đã tạo nên sự đoàn kết, nhất trí toàn dân, thống nhất Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ.

Hòa thượng Thích Minh Thịnh (Hà Nội) cho rằng: Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật học độc lập, uy tín; tinh thần của nó là tinh thần quốc gia Đại Việt, là xương sống của nền văn hóa Việt Nam độc lập lúc bấy giờ. Nền Phật học do vua Trần Nhân Tông khởi xướng này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa và Ấn Độ nhưng vẫn giữ được cá tính đặc biệt của mình. Đứng về phương diện tư tưởng, tổ chức, cũng như hành đạo, giáo hội Trúc Lâm có những nét độc đáo riêng, khiến cho nó chỉ có thể là một giáo hội Việt Nam, phục vụ người Việt, duy trì và bồi đắp căn tính Việt.

Đề cập đến vai trò của đạo Phật đối với xã hội Đại Việt thời nhà Trần, TS. Nguyễn Phương Chi (Viện Sử học) cho biết: Phật giáo thời Trần là một trong những yếu tố quan trọng của xã hội Đại Việt. Nó đóng vai trò thiết yếu trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Nó là sợi dây nối kết tình đoàn kết nhân dân với tầng lớp lãnh đạo đất nước. Hệ tư tưởng và những tác phẩm văn hóa Phật giáo là tinh hoa của quốc gia Đại Việt thời Trần và đến nay, nó là di sản văn hóa quý giá của dân tộc.
Phật giáo mà điển hình là giáo phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập, “với sức sống bền bỉ trong các tầng lớp nhân dân, tác động mạnh mẽ đến xã hội bởi các luân lý đạo đức, kêu gọi làm việc thiện, thương yêu người khác và tôn trọng phép nước... Trúc Lâm thiền phái đã trở thành uy lực thống nhất ý thức hệ toàn dân, trở thành nhân tố dệt nên tư tưởng và tính chất xã hội độc đáo, mang đậm tính dân tộc” – TS Nguyễn Phương Chi khẳng định.

Trần Lưu

(Sài Gòn Giải Phóng)
TRẦN NHÂN TÔNG
VỊ HOÀNG ĐẾ ĐẶC BIỆT TRONG LỊCH SỬ
trannhantong-tuongniem-05

Tại Hội thảo khoa học 700 năm ngày mất của Đức Vua Trần Nhân Tông, tổ chức tại Quảng Ninh, hôm nay, Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP HCM, nhận định, Trần Nhân Tông là một hoàng đế đặc biệt, người có nhiều đóng góp quan trọng trên cả ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước, mở nước.

Hội thảo thu hút trên 300 đại biểu là các nhà khoa học, chức sắc, nhà quản lý tôn giáo, cư sỹ, Phật tử, đại diện các tổ đình thiền phái Trúc Lâm và dòng họ Trần Việt Nam tham dự.

Hàng trăm người dân thuộc đủ mọi thành phần, dân tộc, lứa tuổi và đến từ rất nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước đã có mặt trong khuôn viên khách sạn thương mại Uông Bí, Quảng Ninh, để theo dõi hội thảo “Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông - cuộc đời và sự nghiệp” qua màn hình lớn do phòng họp của khách sạn không đủ sức chứa.

“Sự quan tâm của người dân chứng tỏ sức hút to lớn của Vua Phật còn nguyên vẹn trong tâm trí người dân Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ngài là đề tài lớn để con cháu muốn đời sau khám phá, học hỏi”, Hòa thượng Thích Thanh Tứ, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban tổ chức đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày mất của Phật hoàng Trần Nhân Tông, nói.

Từ sáng sớm, trên một 100 Phật tử đến từ Hải Phòng, Bắc Giang có mặt tại thị xã Uông Bí để dự hội thảo. Dù nhà ở khá gần địa điểm tổ chức nhưng bác Lương Gia Sành, 85 tuổi, ở phường Thanh Sơn, thị xã Uông Bí, cũng tranh thủ đi sớm, tìm một chỗ ngồi tốt để tập trung lĩnh hội thêm những tư tưởng, triết lý của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Anh A Nính (Kon Tum) là một trong 46 thành viên của đoàn công chiêng Tây Nguyên có cơ duyên được chọn ra Bắc biểu diễn văn nghệ phục vụ đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày mất của Phật hoàng Trần Nhân Tông (diễn ra vào sáng 27/11). Tranh thủ lúc không tập luyện, anh đến hội thảo để “tìm về cội nguồn, hiểu hơn về con người của đức Phật hoàng Trần Nhân Tông, vị sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử”.

Hơn 8h, hội thảo chính thức khai mạc. Tham dự có nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) Nguyễn Khoa Điềm.

Trong lá thư gửi tới hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: Trần Nhân Tông là một vị vua văn võ song toàn, Phật hoàng có nhiều đóng góp to lớn đối với dân tộc.

Mở đầu Hội thảo, Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP HCM, mở đầu hội thảo với nhận định: “Trần Nhân Tông là một hoàng đế đặc biệt, người có nhiều đóng góp quan trọng trên cả ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước, mở nước. Song điểm được coi là nổi bật nhất trong sự nghiệp, cuộc đời Trần Nhân Tông là việc sáng lâp ra phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền của riêng người Việt”.

Theo Thượng tọa, thiền phái Trúc Lâm là sự kết hợp của bốn dòng thiền đã có mặt ở Việt Nam, thể hiện tinh thần và khả năng đoàn kết của nó. "Không chỉ là sự kết hợp của các dòng thiền ta còn có thể thấy giáo lý của thiền phái Trúc Lâm là sự kết hợp giữa triết học siêu nhân của Phật giáo với nhân sinh quan của Nho giáo và vũ trụ quan của Lão giáo, là sự thể hiện tư tưởng tam giáo đồng nguyên. Đặc biệt đây là thiền phái đầu tiên do chính là vị hoàng đế đứng đầu một đất nước, đã từng chiến thắng đội quân hung hãn nhất thế kỷ 13 sáng lập”, Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm phân tích.

Cũng theo Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm, nhắc tới thiền phái Trúc Lâm còn là nhắc tới tinh thần nhập thế của Phật giáo với tư tưởng hòa quang đồng trần. Đó là: “Phật giáo của mọi người, không hạn chế trong tăng sỹ cũng như trong chùa chiền. Ai cũng biện tâm được, không kể xuất gia hay tại gia. Ở giữa trần tục chứ không cần ở chùa, ở núi vẫn có thể vui với đạo". Tư tưởng trên làm cho đạo Phật mặc dù có giáo lý cao siêu thâm diệu nhưng vẫn có nền tảng quần chúng rộng rãi. Điều quan trọng hơn, sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã góp phần cổ vũ tinh thần người dân nước Việt về khả năng phát huy những giá trị văn hóa bản địa, văn hóa truyền thống và mở ra phong trào Phật học mới.

Tiến sỹ Nguyễn Hữu Nguyên, Viện nghiên cứu phát triển TP HCM, cho rằng, thời đại nhà Trần có hai đỉnh cao là tư tưởng Phật giáo và sức mạnh chống giặc ngoại xâm. Đời vua Trần Nhân Tông (1279-1293), nước Đại Việt hai lần đánh thắng quân Nguyên. Trong lễ mừng chiến thắng, Trần Nhân Tông ghi lại hai câu thơ: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/Sơn hà thiên cổ điện kim âu”. Tinh thần Phật giáo Việt Nam đặt “quốc gia xã tắc lên trên, lấy thân mình dẫn đạo” được hình thành. “Đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo nhập thế đã thể hiện rất rõ ở vị vua đã đích thân hai lần đánh thắng quân Nguyên - Mông nhưng không màng danh lợi ở triều đình mà lui về chốn thanh cao để sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đó là giáo phái lớn nhất Việt Nam tồn tại cho đến ngày này”, tiến sỹ Nguyên khẳng định.

Cũng theo phân tích của ông Nguyên, nhìn từ góc độ chính trị, quyền lực, bên trong ông Vua Trần Nhân Tông có một ông Phật nhưng nhìn từ góc độ tôn giáo, bên trong ông Phật có một ông Vua. Nếu làm vua là nhà chính trị; tu hành là nhà đạo đức thì ở Trần Nhân Tông là sự hòa quyện cả hai trong một con người vĩ đại.

Từ cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, một hạt nhân tiêu biểu của triều Trần, tiến sỹ Nguyên khái quát: “Tư tưởng Phật giáo thời Trần đã đạt đến độ cao siêu để có thể tìm thấy sự dung hòa với chính trị ở mục đích bảo vệ “quốc gia xã tắc”.

Đến từ xứ sở mặt trời mọc, Giáo sư, Hòa thượng Yoshimizu Daichi nhận xét: Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh, sáng suốt, hiền từ, đã ẩn tu trên Yên Tử và trở thành vị tổ của thiền phái Trúc Lâm mang bản sắc dân tộc Việt Nam thuần túy.

Nghiên cứu Phật giáo hai nước, vị giáo sư, nhà sư Nhật này đưa ra một phát hiện khá thú vị: Vua Trần Nhân Tông, người Việt Nam, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và Pháp Nhiên; người Nhật Bản sáng lập ra tịnh độ tông Nhật Bản là hai quốc bảo nhân gian, đã cống hiến cho nhân loại nói chung và Phật giáo nói riêng.

(Theo baodatviet.vn)


11-30-2008 09:23:13

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2014(Xem: 14860)
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới, do TT Thích Nguyên Tạng biên soạn từ 1990
01/10/2014(Xem: 8487)
Pháp danh : Trừng Thành Pháp tự : Chí Thông, Pháp hiệu : Thích Giác Tiên. Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 Thế danh : Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Đức đời thứ 33 (1879). Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đường hướng đến cảnh giải thoát ; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh.
01/10/2014(Xem: 8575)
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại đã viết lên trang lịch sử bằng máu, xương của Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử. Dòng lịch sử ấy đã nêu cao tấm gương hy sinh bất khuất trước những đàn áp, bạo lực, súng đạn, nhà tù và lựu đạn. Phải chăng đây là một chặng đường lịch sử oai hùng mà Phật Giáo Việt Nam đã biểu tỏ tinh thần Đại hùng, Đại lực, Đại Từ Bi để vực dậy một nền văn hóa đã bị sụp đổ bởi một chế độ tha hóa, ngoại lai xâm nhập vào quê hương Việt Nam.
01/10/2014(Xem: 10246)
Trên dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận đại của những thập niên 30-40 có bậc Tôn túc của Ni giới xuất hiện, đồng hành với chư Tăng để xiển dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài, xây dựng tự viện, giữ gìn giềng mối đạo pháp được bền vững. Bậc Tôn túc của Ni giới ấy là SB Diệu Không, người đã hy hiến cả đời mình cho đời lẫn đạo, SB đã lưu lại cho hậu thế một hành trạng sáng ngời cho đàn hậu học noi gương.
09/09/2014(Xem: 14161)
Hòa Thượng Thích Giác Thông, tục danh Đổ Văn Bé, sinh ngày 18 tháng 2 năm 1939 tại Mỹ Hòa Hưng, Huyện Châu Thành, An Giang, Long Xuyên. Trong một gia đình thâm tín Phật Giáo. Thân Phụ là Cụ Ông Đổ Nhựt Thăng, Thân Mẫu là Cụ Bà Nguyễn Thị Khiên, Hòa Thuợng là người anh cả trong số 6 anh em ( 3 trai, 3 gái ), được nuôi dưỡng trong một gia đình nông dân hiền lành, có truyền thống đạo đức, nên từ nhỏ Hòa Thượng đã là người sớm có tư chất hiền lương, có tâm thương người mến vật, là con có hiếu với ông bà cha mẹ.
06/09/2014(Xem: 8349)
Không biết đây là lá thư thứ mấy con đã viết mà không bao giờ gởi đi, bởi vì con biết thư có vượt ngàn dặm trùng dương bay về thì Thầy cũng vẫn không cầm đọc được, chứng bịnh Parkinson đã làm cho hai tay Thầy run nhiều quá nhưng nhân mùa Phật Đản nhớ đến Thầy, con lại muốn viết. Thời gian sau này, con vẫn theo dõi thường xuyên sức khỏe của Thầy, con buồn vô cùng, Thầy đã bị bịnh, không thoát khỏi qui luật sinh, lão, bịnh mà con thì ở xa quá, không thăm viếng cận kề Thầy được như ngày xưa nữa !
05/09/2014(Xem: 17146)
Còn đây của báu trong nhà Không là ngọc bảo, không là hoàng kim Bình thường chiếc áo tràng lam Mà sao quý vượt muôn ngàn ngọc châu! Những năm cầu thực dãi dầu Sớm mai tụng niệm, đêm thâu mật trì Dòng đời mãi cuốn con đi Về nương chốn tịnh có Thầy, có Ôn… Kinh truyền ban phát khuyên lơn
02/09/2014(Xem: 11957)
“Đầu lông trùm cả càn khôn thảy Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong” Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống. Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi: Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc? Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần? Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao? Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào! Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.
12/08/2014(Xem: 16689)
Cô là 1 nữ sinh trẻ nhất của Sài Gòn đã anh dũng ngã xuống trước họng súng của quân thù tàn bạo trong 1 buổi sáng mùa thu năm 1963 trước cửa chợ Bến Thành, với hàng ngàn sinh viên, học sinh và nhân dân phật tử trước cửa chợ Bến Thành. Và ngay sau đó, Thành hội sinh viên học sinh Sài Gòn đã quyên góp vận động ủng hộ xây bức tượng thờ người nữ học sinh anh hùng tuổi 15 đặt ngay công trường Diên Hồng trước cửa chính chợ Bến Thành ngày nay với sự chứng kiến của hàng ngàn người dân, phật tử thành phố và sinh viên, học sinh.
09/08/2014(Xem: 12849)
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam, là đệ tử của cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, vì vậy Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm. Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng cao đẳng tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ tú tài toàn phần tại Trường Khải Định - Huế (nay là Trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký Tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]