HT. Thích Hành Trụ (1904-1984)

03/10/201013:48(Xem: 8263)
HT. Thích Hành Trụ (1904-1984)
HT. Thich Hanh Tru
HT. Thích Hành Trụ
(1904-1984) 

Hòa Thượng pháp danh là thượng Thị hạ An pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 42. Thế danh ngài là Lê An sinh năm Giáp Thìn 1904  trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển thân mẫu là bà Nguyển Thị Sử. Ông bà có 3 người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.

Ngài xuất gia năm 12 truổi ở chùa làng, đến năm 19 tuổi được Hòa Thượng Giải Tường chùa Phước Sơn thế độ làm đệ tử và tu học tại đây. Năm 22 tuổi Ngài thọ tam đàn cụ túc giới và giữ chức thư ký trong chùa.

Với phong cách đĩnh đạt và say mê học hỏi, Ngài đã trau dồi Kinh Luật nội điển cùng quốc văn ở hầu hết các trường hạ, khóa học được tổ chức bấy giờ ở khắp các đạo tràng chùa Thiên Phước Thủ Đức năm 1934, tổ đình Bát Nhã Phú Yên năm 1935…

Gặp lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang phát triển, Ngài vào Nam tham học ở các học đường Lưỡng Xuyên do các Hòa Thượng Khánh Hòa, Khánh Anh, Huệ Quang lãnh đạo.

Năm 1936 Ngài được tiến cử làm giáo thọ sau khóa trường hương do hội Lưỡng Xuyên Phật học tổ chức tại chùa Long Phước, Vĩnh Long. Sau đó Ngài được cử ra Huế học tại Phật học đường chùa Tường Vân, rồi đến chùa Tây Thiên với học Tăng của ba miền tham dự, do Quốc Sư Pháp Huệ làm pháp chủ giảng dạy.

Năm 1940, vì bệnh trầm trọng, Ngài phải trở về Nam điều trị và ở lại giảng dạy tại Ni trường chùa Tam Sơn Phú Nhuận.

Năm 1942, Ngài được tổ Khánh Hòa bổ về Sóc Trăng làm giáo thọ giảng dạy ở chùa Hiệp Châu, chi hội Kế Sách của hội Lưỡng Xuyên Phật học và chùa Linh Giác tại Vĩnh Long.

Năm 1945, Ngài được Hòa Thượng Vạn An đưa về làm giáo thọ giảng dạy tại chùa Hội Phước, Nha Mân, Sa Đéc. Trong thời gian ấy, Ngài làm đệ nhất yết ma đại giới đàn chùa An Phước, Châu Đốc. Sau đó, Ngài về chùa Long An ở Sa Đéc, tại đây đã kết nghĩa huynh đệ cùng ba vị Hòa Thượng Khánh Phước, Thới An và Thiện Tường. Ở Phật học đường này chư tăng khắp lục tỉnh hội tụ về đây tu học rất đông. Xuất thân từ đây có các Hòa Thượng Huệ Hưng, Hòa Thượng Từ Nhơn. . .

Năm 1946, Ngài cùng với ba vị sư đệ kết nghĩa lên Sài Gòn hợp nhau lập nên chùa Tăng Già, nay là chùa Kim Liên, để tiếp độ chúng Tăng tựu về tu học. Đây là Phật học đường đầu tiên ở đất Sài Gòn trong phong trào chấn hưng Phật giáo, mở đường cho các Phật học đường sau này phát triển.

Năm 1947, Ngài lại cùng ba vị sư đệ dựng lên ngôi già lam thứ hai là chùa Giác Nguyên để chuyển chư Tăng về đây tu học, Chùa Tăng Già trở thành trường Phật học dành cho Ni chúng. Hai đạo tràng này ngày thêm vang tiếng và Tăng Ni khắp nơi về học rất đông, đã góp phần lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo tại đất Sài Gòn bấy giờ. Ngài đảm nhiệm giám đốc Phật học đường Giác Nguyên và hóa chủ Phật học Ni trường Tăng Già.

Năm 1948, Ngài mở đại giới đàn tại Phật học đường Giác Nguyên để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni thọ trì tu học. Sau đó, Ngài được đề cử làm trưởng ban nghi lễ của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt vào năm 1951, làm chứng minh đạo sư hội Phật học Nam Việt tại chùa Xá Lợi cho đến cuối đời (1956- 1984) và làm trưởng phái đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự hội nghị Phật giáo thế giới kỳ 4 tại Nam Vang năm 1957.

Năm 1963, Ngài khai mở Phật học đường Chánh Giác tại chùa Chánh Giác ở Gia Định do Ngài làm giám đốc kiêm trụ trì. Sau đó Ngài về trụ trì thêm chùa Đông Hưng ở Thủ Thiêm và chọn nơi này làm chốn tỉnh tu nhập thất vào những mùa an cư kiết hạ.

Năm 1967 - 1969, Ngài làm giới sư các đại giới đàn Hải Đức ở phật học viện Hải Đức Nha Trang và Quảng Đức ở Phật học viện Huệ Nghiêm Sài Gòn.

Năm 1971, Ngài được suy cử làm phó chủ tịch Hội đồng giám luật Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam Thống Nhất.

Năm 1975-1980, liên tiếp Ngài làm đàn đầu Hòa Thượng tại các giới đàn chùa Ấn Quang do Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam Thống Nhất mở ra để truyền trao giới pháp cho giới tử toàn quốc.

Từ năm 1977- 1981 Ngài kiêm chức Tổng vụ trưởng tổng vụ tăng sự của Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam Thống Nhất.

Năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập, Ngài được cung thỉnh vào làm thành viên hội đồng chứng minh trung ương.

Nhận thấy thời gian đồng hành với lão bệnh phát sinh nơi thân tứ đại, từ năm 1976 trở đi, Ngài phát nguyện nhập thất an tịnh cho đến khi về cõi Phật. Vào ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984) huyễn thân Ngài nhẹ nhàng chuyển hóa. Ngài trụ thế 81 năm, được 59 hạ lạp, để lại trong tâm tưởng hàng hậu tấn niềm tri ân vô hạn.

Ngài có công đức lớn trong nhiệm vụ giáo dục đào tạo nhiều thế hệ Tăng tài, và truyền thừa chánh pháp qua việc phiên dịch ấn hành nhiều kinh luật phổ biến với các tác phẩm để lại:

Sa Di Luật Giải

Quy Sơn Cảnh Sách.

Tứ Phần Giới Bổn Như Thích.

Phạm Võng Bồ Tát Giới.

A Di Đà Sớ Sao.

Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên.

Kinh Hiền Nhân.

Kinh Trừ Khủng Tai Hoạn.

Tỳ Kheo Giới Kinh.

Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn.

Long Thơ Tịnh Độ.

Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư.

Nghi Thức Lễ Phật.

Sự Tích Phật Giáng Thế.

Thật vậy, Ngài là một bậc cao Tăng thời hiện đại, những công hạnh của Ngài luôn là kim chỉ nam không những cho hàng môn đồ pháp quyến mà còn cho cả những ai muốn cùng đi trên lộ trình giác ngộ. Ngài xứng đáng là đấng thạch trụ trong chốn thiền môn. Tự thân với giới đức trang nghiêm đáng là bậc mô phạm cho hàng hậu tấn.

[blockquote]Đối với Giáo Hội, Ngài có công trong việc kiến thiết các ngôi Phật học đường và trực tiếp đào tạo ra những người cộng sự ưu tú cho Đạo Pháp. Và cũng từ những Phật học đường này đã đào tạo những Tăng Ni tài đức, đủ sức tiếp tục con đường mà Chư Phật, chư Tổ đã giao phó. Đối với môn đồ pháp quyến, Ngài luôn là tấm gương sáng để chúng đệ tử noi theo, là người Thầy, người Cha dẫn dắt đàn con trẻ vượt qua mọi thử thách của cuộc đời để cùng đến bến bờ giải thoát, và cũng hoàn thành nguyện hạnh thượng hoằng hạ hóa. [/blockquote]

Chúng con kính nguyện khắc cốt ghi tâm và làm theo những gì Thầy đã chỉ dạy, để mãi mãi đi trên con đường đạo nhằm làm tốt hạnh nguyện tự lợi, lợi tha.

Giờ nầy Giác linh Tôn Sư đang an vui nơi Phật quốc để lại cõi Ta Bà hàng môn đồ chúng con nhiều mến tiếc nhớ thương.

Nhưng than ôi!

Ai tìm vết điểu từ đâu lại
Ai nghe tiếng sáo vọng về đâu

Đầm Tào Khê vằng vặc bóng trăng thâu
Non Thiếu Thất xạt xào rừng mai trúc.

Ngưỡng nguyện Giác Linh Tôn Sư:

Nhập tử sanh như du hý,

Xuất thế mộng tự sát na,

Bất vi bản thệ tái hiện đàm hoa

Tịnh độ Ta Bà vãng lai tự tại

NAM MÔ ĐÔNG HƯNG ĐƯỜNG THƯỢNG TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP NHỊ THẾ HÚY THƯỢNG THỊ HẠ AN, TỰ HÀNH TRỤ HIỆU PHƯỚC BÌNH, ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG TÔN SƯ .


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/01/2018(Xem: 7672)
Chuyến Đò Bến Giác. Chân tu phạm hạnh trang nghiêm, An nhàn tự thị, điềm nhiên thanh bần. Bậc tài Ni chúng xuất trần, Tinh chuyên học pháp, phạm âm thông lầu. Từ quê Xứ Quảng in sâu, Nuôi tâm dưỡng trí, pháp mầu khai hoa. Vuông tròn hạt Ngọc trong ta, Tìm ra tánh Phật, thoát xa dục tình.
25/01/2018(Xem: 20636)
Khấp Báo Huynh Trưởng Cấp Dũng Tâm Nghĩa vừa qua đời tại Cali, Hoa Kỳ
10/01/2018(Xem: 13462)
Viên dung hạnh nguyện Bồ Đề, Thong dong giữa cõi, lối về phương duyên. Thác duyên giữa chốn lam thiền, Kim Liên hầu Phật, tịch chiên kinh huyền.
06/01/2018(Xem: 11937)
Chúng tôi có duyên được gặp ông Lý Đại Nguyên từ những năm cuối thập niên 1950, khi đến tham dự những buổi nói chuyện về những vấn đề văn hóa, chính trị và văn nghệ vào những ngày chủ nhật tại Đàm Trường Viễn Kiến (nhà ông Nguyễn Đức Quỳnh trong hẻm cạnh chùa Giác Minh của thượng tọa Thích Tâm Châu, đường Phan Thanh Giản). Khi nhập vào Đàm Trường này, chúng tôi còn là học sinh đệ tứ, đệ tam trường Chu Văn An, nhưng được nghe nhiều nhà văn, nhà báo thuyết trình đủ thứ đề tài , trong đó tôi còn nhớ là thường gặp luật sư Nghiêm Xuân Hồng, nhà văn Mặc Đỗ, nhà báo Hồ Nam, nhạc sĩ Phạm Duy, mấy nhà văn nhóm Sáng Tạo, và mấy người trẻ lớp tuổi tôi như Phan Lạc Giang Đông, Phạm Thiên Thư, Lê Triều Quang... Nhà văn hóa Nguyễn Đức Quỳnh, chủ nhà và người chủ trương Đàm Trường Viễn Kiến, với bộ bà ba nâu, trán cao, dáng thanh thoát thường góp nhiều ý kiến trong những buổi nói chuyện, và người thứ nhì là Lý Đại Nguyên, dáng thư sinh, mặc bộ bà ba trắng thường tổng kết những đề tài thảo luận. Tro
29/12/2017(Xem: 27888)
Giáo Sư Trần Quang Thuận, Pháp danh: Tâm Đức Tự: Trí Không Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1930 tại Huế. Đệ tử của Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu. Du học và tốt nghiệp Tiến Sĩ tại Anh. Cựu Bộ Trưởng Bộ Xã Hội, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cựu Nghị sĩ Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa. Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Hội Ái Hữu Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tổng Thư Ký Hội Đồng Điều Hành Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Nghiên Cứu Kế Hoạch GHPGVNTNHN-HK. Giám đốc Trung Tâm Học Liệu Phật Giáo, California, Hoa Kỳ. Đã cộng tác với nhiều báo chí Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại.
19/12/2017(Xem: 10376)
Trong diễn văn của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại buổi khai mạc Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội đã khẳng định: “Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân. Đặc biệt lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lớn lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi từ bỏ giàu sang, quyền quý, tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.”
17/12/2017(Xem: 80255)
Bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 quyển, chiếm tới ba tập khổ lớn trong Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, mỗi tập trên dưới 1.000 trang, mỗi trang độ 1.500 chữ, tổng cộng khoảng 4 triệu 500.000 chữ (Hán); thường được gọi là Đại Bát Nhã, mang số hiệu 220. Khoảng giữa năm 1973, theo quyết định của Hội đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hội đồng Phiên dịch Tam Tạng gồm 18 vị được thành lập với Hòa Thượng Trí Tịnh làm Trưởng ban, Hòa Thượng Minh Châu làm Phó trưởng ban và Hòa Thượng Quảng Độ làm Tổng thư ký. Trong kỳ họp tại Viện Đại Học Vạn Hạnh vào những ngày 20, 21, 22 tháng 10 năm 1973 nhằm thảo luận phương thức, nội dung và chương trình làm việc, Hòa Thượng Thích Trí Nghiệm được Hội đồng phân công phiên dịch bộ Đại Bát Nhã 600 quyển này. Thực ra, Ngài đã tự khởi dịch bộ kinh này từ năm 1972 và khi được phân công, Ngài đã dịch được gần 100 quyển. Đây là bộ kinh lớn nhất trong Đại Tạng, đã được Ngài dịch suốt 8 năm (1972-1980) mới xong và đã dịch theo bản biệt
15/12/2017(Xem: 129393)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.
15/12/2017(Xem: 181370)
Văn Hóa Phật Giáo, số 242, ngày 01-02-2016 (Xuân Bính Thân) Văn Hóa Phật Giáo, số 244, ngày 01-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 245, ngày 15-03-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 246, ngày 01-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 247, ngày 15-04-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 248, ngày 01-05-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 249, ngày 15-05-2016 (Phật Đản PL 2560) Văn Hóa Phật Giáo, số 250, ngày 01-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 251, ngày 15-06-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 252, ngày 01-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 253, ngày 15-07-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 254, ngày 01-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 255, ngày 15-08-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 256, ngày 01-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 257, ngày 15-09-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 258, ngày 01-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 259, ngày 15-10-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 260, ngày 01-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 261, ngày 15-11-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 262, ngày 01-12-2016 Văn Hóa Phật Giáo, số 263, ngày 15-12-2016
15/12/2017(Xem: 12647)
Ban Trị sự GHPGVN thị xã Ninh Hòa, môn đồ pháp quyến vô cùng kính tiết báo tin: Hòa thượng Thích Ngộ Trí. Chứng minh BTS GHPGVN thị xã Ninh Hòa. Trụ trì chùa Trường Thọ. Do niên cao lạp trưởng, Hòa thượng đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 14 giờ ngày 12/12/2017 (25/10 Đinh Dậu) tại chùa Trường Thọ, tổ dân phố 10, phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Trụ thế: 75 năm, Hạ lạp: 47 năm.