Đôi nét về TT Thích Thông Huệ

11/10/201002:32(Xem: 8890)
Đôi nét về TT Thích Thông Huệ




thich thong hue
Đôi nét về tác giả

TT Thích Thông Huệ

A. Sơ lược tiểu sử:

Thượng tọa Thích Thông Huệ, thế danh Bùi Hữu Hòa, sinh năm Tân Sửu (1961) tại Phan Rang - Ninh Thuận. Năm 20 tuổi (Canh Thân - 1980) xuất gia với Hòa thượng Thích Đỗng Hải, trụ trì Tổ đình Sắc tứ Thiền lâm tự - Phan Rang, Ninh Thuận.

Năm 1982 Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Thượng tọa đã đãnh lễ Hòa thượng Thích Đỗng Minh, cũng là vị Sư Bá trong tông môn, để được làm đệ tử Y chỉ sư.

Năm 1986 Thượng tọa xin Hòa thượng Thích Đỗng Minh được tùng học lớp tu thiền tại Thiền viện Thường Chiếu và đã được Hòa thượng hoan hỷ hứa khả. Do tình thân lâu nay với Hòa thượng Thích Thanh Từ(*), Hòa thượng Thích Đỗng Minh(**) đã viết thư giới thiệu lên Hòa thượng Thích Thanh Từ. Nhờ thư ấy, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã cho Thượng tọa nhập chúng tu học và thâu nhận làm đệ tử Y chỉ sư như sở nguyện, mở ra một trang mới cho đời tu của Thượng tọa từ lúc ấy cho đến bây giờ.

Năm 1997 Thượng tọa đã được Hòa thượng Thích Thanh Từ cho về thành phố Nha Trang tiếp nhận cơ sở và giao nhiệm vụ hoằng dương chánh pháp, phát triển Thiền tông tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

B. Vai trò trong Giáo hội và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử:

- Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

- Ủy viên Ban Từ thiện–Xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

- Thành viên Ban Thiền học Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

- Phó Trưởng Ban thường trực Ban Kiểm soát tỉnh Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa nhiệm kỳ VII (2012 - 2017).

- Phó Ban Hoằng pháp tỉnh Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa.

- Giáo thọ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

- Giáo thọ trường Trung cấp Phật học Khánh Hòa kiêm giáo thọ trường Trung cấp Phật học Ninh Thuận.

- Trụ trì các Thiền Viện và Thiền Tự sau:

+ Thiền viện Trúc Lâm Viên Ngộ - Phan Rang, Ninh Thuận;

+ Thiền viện Trúc Lâm Viên Minh - Phan Thiết, Bình Thuận;

+ Thiền tự Trúc Lâm Viên Giác - Nha Trang, Khánh Hòa;

+ Thiền tự Bửu Sơn - Diên Khánh, Khánh Hòa.

- Thượng tọa chuyên làm công tác hoằng pháp, giáo dục, văn hóa, từ thiện nhân đạo và tổ chức các khóa tu thiền.

Ngoài việc giảng dạy trong nước, Thượng tọa đã từng đi du hóa tại các nước Hoa Kỳ, Úc châu… và đã thuyết giảng rất nhiều pháp thoại cho Phật tử, thiền sinh.

Thường xuyên tổ chức các khóa tu cho các đạo tràng thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tại Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

- Cộng tác viên các tờ báo và tạp chí Phật giáo như: Giác ngộ, Vô ưu, Quảng Đức, Hoa từ...

C. Những tác phẩm và dịch phẩm đã xuất bản:

  1. Căn bản thiền tập
  2. Phương pháp thiền tập
  3. Thiền Niệm Xứ
  4. Thiền là gì ?
  5. Thiền trong đời thường
  6. Kinh Viên Giác luận giảng
  7. Những đặc điểm của Đức Phật
  8. Ngày lễ hội truyền thống
  9. Thẩm mỹ mùa xuân
  10. Thầy là ngọn hải đăng
  11. Vu Lan và tuổi trẻ
  12. Sứ mệnh của Đạo Phật
  13. Bá Trượng ngữ lục

 (Mời xem tác phẩm)



————————————————————

(*) Hòa thượng Thích Thanh Từ: Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm - Đà lạt và các Thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử trong và ngoài nước.

(**) Hòa thượng Thích Đỗng Minh: được tôn là Hòa thượng Luật sư, được suy tôn làm Tuyên Luật sư cho nhiều Đại giới đàn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 10367)
Chùa Thập Tháp là một trong số các ngôi tổ đình nổi tiếng của đất Bình Định Nếu như ở thời kỳ khởi đầu, ngôi tổ đình ấy được chú ý nhiều vì vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều - người có công lớn trong sứ mạng truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong thời Nam Bắc phân tranh, hậu bán thế kỷ 17 ; thì vào thời hiện đại, tổ đình Thập Tháp được cả nước biết đến vì sự có mặt của Quốc sư Phước Huệ (1869-1945).
09/04/2013(Xem: 10225)
Ngài đã nêu cao tinh thần Bi, Trí, Dũng phục vụ chúng sinh, cống hiến trọn vẹn đời mình cho sự nghiệp chung của đạo pháp và dân tộc Việt Nam. Hòa thượng Thích Trừng San, pháp tự Minh Hiền, hiệu Hải Tuệ, thế danh Nguyễn San sau đổi là Trần Văn Lâu, nối pháp đời thứ 42 dòng Lâm Tế Liễu Quán. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), tại thôn Phú Khánh, xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Năm lên 8 tuổi, được song thân cho xuất gia học đạo với Hòa thượng Phổ Hiện, tại chùa Khánh Long, Diên Khánh. Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài y chỉ với Hòa thượng Chánh Ký, kế vị trụ trì chùa Khánh Long. Năm 1943 được y chỉ sư gửi đến thọ giáo với Hòa thượng Bích Không, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang).
09/04/2013(Xem: 12998)
Hòa thượng Giới Nghiêm thế danh là Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921, tại làng Gia Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Phú, tỉnh Thừa Thiên - Huế. ngài xuất thân trong một gia đình gồm ba anh em, có tinh thần yêu nước và có truyền thống đạo đức lâu đời. Ông nội là bậc xuất gia, cha là Hòa Thượng Quang Diệu, chú cũng xuất gia, bác là Hòa thượng Phước Duyên.
09/04/2013(Xem: 8752)
Hòa thượng pháp danh Thị An, pháp tự Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42. Ngài thế danh là Lê An, sinh năm 1904 trong một gia đình trung nông tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ Lê Uyển, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sử. Ông Bà có bốn người con, cả ba người con trai đều xuất gia đầu Phật.
09/04/2013(Xem: 14781)
Hòa thượng pháp hiệu Thích-Thiện-Hòa, thế danh Hứa-Khắc-Lợi sanh năm 1907 tại làng Tân-Nhựt Chợ Lớn. Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Hứa-hắc-Tài, thân mẫu là Nguyễn-Thị-Giáp. Gia đình cả thảy bảy anh em : ba nam, bốn nữ, Ngài là người thứ bảy. Vì người thứ tám mất sớm nên Ngài được coi là con út.
09/04/2013(Xem: 8532)
Hòa thượng pháp danh Trí Độ, hiệu Hồng Chân, thế danh Lê Kim Ba, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại thôn Phổ Trạch, xã Kỳ Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình Nho học, lúc thiếu thời Ngài học chữ Nho và năm 18 tuổi học trường Sư phạm. Vì thế mà sở học rất uyên thâm, thêm lòng mến mộ đạo Phật, Ngài đi sâu vào nghiên cứu giáo lý và trở thành một vị học Phật lỗi lạc.
09/04/2013(Xem: 8969)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
09/04/2013(Xem: 10154)
Hòa thượng Hộ Tông (1893-1981), Maha Thera Vansarakkhita, có thế danh là Lê Văn Giảng, sinhngày 15 tháng 10 năm 1893, tại làng Tân An, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Ngài xuất thân trongmột gia đình trung lưu trí thức, thân phụ là ông Lê Văn Như, thân mẫu là bà Đinh Thị Giêng.
09/04/2013(Xem: 8939)
Hòa Thượng họ Nguyễn, Húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, pháp hiệu Thích Trí Thủ. Ngày sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu, tức ngày 01-11-1909 trong một gia đình nho phong thanh bạch, tại làng Trung Kiên, tổng Bích Xa, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là cụ Nguyễn Hưng Nghĩa, thân mẫu là cụ Lê Thị Chiếu. Hai cụ là người rất kính tín Tam Bảo. Vì vậy, dù là con trai độc nhất trong gia đình, lúc 14 tuổi Ngài đã được song thân cho vào học kinh kệ ở chùa Hải Đức Huế.
09/04/2013(Xem: 14546)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh Nam Định, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.