Duyên hội ngộ với HT Nguyên Lai

07/06/201316:05(Xem: 9222)
Duyên hội ngộ với HT Nguyên Lai

hoathuongthichnguyenlai
DUYÊN HỘI NGỘ VỚI HÒA THƯỢNG NGUYÊN LAI
Điều ngự tử Tín Nghĩa

Tôi gặp Hòa thượng Nguyên Lai cũng nhờ Ni sư Nguyên Thanh(mà nay là Pháp vị Ni Trưởng Thích Nữ Nguyên Thanh, đương kim Viện chủ chùa An Lạc, San Jose).Trước tiên là cám ơn Ni trưởng Nguyên Thanh hằng năm cung thỉnh chúng tôi về chứng minh, thuyết giảng hầu hết những Đại lễ mà đặc biệt là vía đức Phật Di Đà. Kể từ khi Giáo chỉ số 9 ra đời, thì chúng tôi không còn diễn giảng hay chứng minh bất cứ một lễ nào nữa ; cũng vì tế nhị nên giữa chúng tôi và Ni trưởng ít khi còn gặp nhau, mặc dầu không có gì giữa Ni trưởng và chúng tôi. Tuy thế, thỉnh thoảng, Ni trưởng cũng gởi quà cúng dường và ngày tư ngày tết cũng điện đàm thăm hỏi sức khỏe của nhau với những lời đầy pháp vị như xưa.
Hòa thượng Nguyên Lai hòa nhập mảnh đất mới Hoa Kỳ vào khoảng giữa hay gần cuối năm 1994, theo diện HO, với chức vụ Thiếu tá đồng hóa ngành Tuyên úy Phật giáo, thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chính chúng tôi cũng đã trực tiếp làm Cố vấn cho Chương trình Hội Tù nhân Chính trị từ HO Một đến HO Mười tại vùng Dallas – Fort Worth. Và cũng đã từng đứng ra bảo trợ cho những gia đình HO thân quen từ quê nhà trước 1975. Mỗi lần có một gia đình HO đến, thì trong hội chia nhau người đi lên phi trường đưa đón, kẻ đi tìm nhà để thuê mướn, riêng chúng tôi thì đi vận động lương thực và những nhu dụng, tuy không phải là mới nhưng là đồ tốt, còn dùng được.
Khi hai chúng tôi(Hòa thượng Nguyên Lai và Tín Nghĩa)biết nhau, thì chúng tôi thường gọi Hòa thượng bằng“anh”hoặc bằng“thầy”, nhưng rất tương kính và tương thuận nhau.
Ban đầu, thầy ở chùa Giác Minh của Hòa thượng Thích Thanh Cát ; đến gần mùa Phật đản năm 1995, thầy về cọng trú với Tăng chúng chùa Duyên Giác, thành phố San Jose.
Cũng trong năm nầy, chúng tôi qua thuyết giảng vả chứng minh Đại lễ Phật đản 2539 tại chùa An Lạc. Sau khi lễ xong, chúng tôi nhờ một vị Phật tử chở đến tận chùa Duyên Giác để tạo sự thân quen và cảm thông với ngài Nguyên Lai.
Khi quen thân, thầy tâm sự với chúng tôi rằng, ở trong trại ai ai cũng cũng đều đói quá, hễ thứ gì ăn được là cứ ăn kể cả cóc nhái, chuồn chuồn, châu chấu, cào cào, v.v… Thầy kể :
- Thầy Tín Nghĩa biết không ?
- Tôi tếu với thầy rằng, thầy chưa nói làm sao biết ?
Thầy cười rất có duyên và tiếp tục kể : Có lần nọ, khi ban trưa nóng nực, trời nắng, một mình đi ra ngoài kiếm lá cây, ngọn cỏ, nói chung là thức ăn mà danh từ của chế độ gọi là“Đi Cải Thiện”(tức là tìm kiếm thức ăn); ra khỏi trại chưa được bao xa, lom khom vào trong bụi cây, mắt lơ láo nhìn đó đây xem có thứ gì để có thể ăn được không ? Bất thần, một tên du kích từ đằng sau tiến tới, miệng hô to :
- Đứng lại, không tao bắn bể đầu.
Tôi quay lại thấy nó hai tay cầm súng, mon men đi lần tới sát tôi, mũi súng chỉa vào người tôi, hăm dọa đòi bắn. Tôi chẳng một mảy may sợ sệt. Hai tay banh ngực áo ra và tiến về họng súng của nó, nói lớn :
- Đây, mầy bắn tao đi, cứ bắn tao đi,...
Tên du kích thụt lùi, thì tôi lại tiến tới theo nó. Cứ thế, cả hai người kẻ lùi người tiến về đến đất trại. Toàn trại tù nhân, cũng như những cán bộ nghe la lối om sòm, đồng chạy ra hiện trường xem sự thể. Cuối cùng thì ai về chỗ nấy.
Câu chuyện nầy, được một vị HO khi đi lễ Phật chùa Bát Nhã, anh ta đem câu chuyện này kể cho chư Tôn đức và mọi người hôm đó đều nghe.
Anh ta kể, chúng con ở trong trại tù và có một người bạn là người Thiên chúa giáo hết lòng ca tụng và thán phục về thầy Nguyên Lai qua câu chuyện như trên. Anh xưng tụng rằng :
- Thầy Nguyên Lai là Thánh tăng, là Bồ tát của tôi.
Anh kể một cách say sưa, vui thú, thì cả Hòa thượng Nguyên An, Hòa thượng Nguyên Trí, giáo sư Huỳnh Tấn Lê và mọi người đều cười vang. Mọi người chưa dứt tiếng cười, thì Hòa thượng Nguyên An cũng cười và đưa ngón tay chỉ chỏ nói rằng :
- Ngang đó là ngon lành và đủ rồi. Bây giờ mà con tới gặp nữa, thì... Hòa thượng Nguyên An nói đến chữ“thì”, thì cùng vang lên cười một mình và chấm dứt, không nói thêm một chữ nào nữa.
Mọi người đã từng thân cận với thầy Nguyên Lai đều rõ biết vị Lâm Tế tái thế này la hét như thế nào, cũng chỉ cười theo câu chuyện. Vị Phật tử HO ấy chẳng biết mô tê, ất giáp gì cả. Chào quý thầy rồi ra về.
Trở lại sự giao tình giữa chúng tôi và thầy Nguyên Lai. Những lần chúng tôi đến San Jose, đa phần là chùa An Lạc. Vì tôi có duyên với chùa này từ vị Trú trì, ni chúng cùng hầu hết Phật tử ở đây. Ngày chùa còn là một nhà tạm thuê mướn, cải gia vi tự, dùng garage làm nơi thờ tự ở thành phố Marona, rồi về mua nhà ở San Jose, đường Apollo, rồi cùng đi tìm nơi khang trang như bây giờ, hầu hết các lễ lớn chúng tôi đều có mặt. Mỗi lần như thế, nếu chỉ trong ba hôm, thì thế nào cũng lên tận Tu viện Kim Sơn viếng thăm người bạn cố tri là ngài Viện trưởng Thích Tịnh Từ. Nếu dài ngày hơn nữa, thì lên Stockton vấn an ngài Minh Đạt ; tuy thế, không lần nào, sau khi diễn giảng xong, chiều đến là chúng tôi đến vấn an và đàm đạo với thầy Nguyên Lai ờ chùa Duyên Giác. Nơi đây, Thượng tọa Nhật Huệ cũng thương tình làm riêng cho thầy một tịnh thất nho nhỏ bên gốc mít kế chùa. Thầy sống đạm bạc với chiếc ấm trà đã bạc màu với vài chum dùng uống trà thuộc loại đồ cổ, sứt miệng.
Mỗi lần như thế, chúng tôi chỉ lắng nghe và được thầy vui cười kể chuyện. Hết chuyện ở điệu, rồi đến chuyện tu học, chuyện cùng với Hòa thượng Thích Minh Tâm bị đuổi chạy có cờ ở Phan Thiết trong những ngày Pháp nạn 1963 dưới chế độ Ngô triều ; rồi chuyện vào đời binh nghiệp ngành Tuyên úy Phật giáo, rong ruổi trên bốn vùng chiến thuật, để kề cận an ủi, cầu nguyện cho binh sĩ cũng như gia đình binh sĩ khi hữu sự. Thôi thì đủ thứ, thầy huyên thuyên nói không biết mệt. Có lẽ, chúng tôi là người biết lắng nghe, và biết khơi chuyện để thầy nói.
Đến năm 1998, chúng tôi làm lễ Khánh thành Tân chánh điện Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại, cung thỉnh thầy thân lâm tham dự, trước là để thầy có bầu không khí thư giãn tiếp xúc cùng chư Tôn đức trong ngày Đại hội thường niên Nhiệm kỳ Hai năm thứ hai được diễn ra vào các ngày 09, 10 và 11 tháng 10 năm 1998(nhằm ngày 20 tháng 08 Mậu dần).
Sau khi dự Đại lễ Khánh thành và Đại hội Thường niên, thầy rất vui mừng là được gặp lại quý Tôn đức một thời cùng làm việc với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ; vì, chính thầy cũng là thành viên vâng theo Hòa thượng Thích Trí Thủ, đi đó đây để vận động. Cũng trong ngày lễ ấy, thầy rất vui mừng gặp lại nhị vị tướng quân anh hùng vừa hiên ngang đời lính, trải dài đời mình cho non sông và đạo pháp. Đó là Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, người hùng của cách mạng bất thành ngày 11-11-1960 và cũng là người hùng vùng giới tuyến ; và Trung tướng Tôn Thất Đính, người hùng của ngày Cách mạng 01-11-1963. Khi trở về lại am thất của thầy, có viết một bài cảm niệm đối với Từ Đàm Hải Ngoại, trong Kỷ yếu kỷ niệm, có đoạn, thầy viết ở trang 81 như sau :
... “Thượng tọa Thích Tín Nghĩa khi đến Hoa Kỳ đã nhanh chóng nối liền với nhịp cầu tổ chức. Thầy luôn tâm niệm: Dù bất cứ ở nơi đâu vẫn là con em của Giáo Hội Phật Việt Nam Thống Nhất nên đã sớm hội nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ. Hiện tại thầy là Tổng vụ trưởng Tổng vụ Nghi lễ.
Song hành Phật sự từ tháng 10-1983 về sau, Thượng tọa vẫn đi khắp đó đây các tiểu bang của Hoa Kỳ cũng như Âu châu và Canada để thuyết giảng và chứng minh,... Nhưng Tân chánh điện Từ Đàm vẫn là chính yếu trong tâm khảm của thầy và hàng Phật tử mong muốn”...

Một đoạn khác ở trang 88, thầy tâm sự : ... “Ngày vui trọng đại nầy là một nhân duyên hội ngộ, Nguyên Lai đã được gặp lại một số nhân vật lịch sử trong Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo 1963, như : Giáo sư Trần Quang Thuận, Trung tướng Tôn Thất Đính, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi. Những nhân vật này đã một thời oanh liệt làm nên lịch sử Cách mạng 1963.” ...
Tâm tình và duyên hội ngộ của chúng tôi thì còn dài, trang báo cũng có hạn; chúng tôi chỉ viết một tâm niệm là nhớ lại những gì khi hai chúng tôi gặp nhau trên xứ cờ Hoa. Nay Thầy không còn nữa. Thầy đi xa và xa lắm. Trước khi Ngài du hóa vân trình, thì chính bản thân chúng tôi và Hòa thượng Thích Nguyên Trí, ngậm ngùi đưa hai ngón tay run run, đặt lên nút bấm để đưa cái thân hư huyễn nhỏ bé của thầy trở về với cát bụi, để thầy an nhiên tự tại nhập vào cảnh bất sanh.
Kính mong Thầy được ở trên hoa sen chín phẩn, cảnh giới Di đà Tịnh độ.
Mùa Đản sanh 2557 - Mạnh hạ Quý tỵ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2013(Xem: 12584)
Từ những con người bình thường, không được sinh ra ở cung vàng điện ngọc, nhưng rồi trở thành những vị vua anh minh tài kiêm văn võ, tư tưởng và nhân cách cao siêu, mãi còn đọng lại với thời gian. Dù sống ở hoàng cung nhưng tâm lúc nào cũng vượt thoát, làm bậc đế vương nhưng hạnh vẫn là một sơn Tăng, ưa vui với gió nội mây ngàn, thở nhịp cùng đất trời nhân gian cây cỏ. Để rồi trở thành những người con Phật vĩ đại, trí tuệ và công hạnh thắm đượm cả không gian, thức tỉnh chúng ta trên bến bờ sinh tử của mê ngộ, đậm nét trong lòng người đến tận hôm nay. Bồ Tát Lương Võ Đế ( 463-549 ) của Trung Hoa và Trần Thái Tông ( 1218-1277) của Việt Nam, dù ở hai phương trời xa cách, sinh ra ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cùng chung một tấm lòng, mang an lạc thịnh vượng đến cho nhân dân, và một hạnh nguyện chuyển hoá cứu độ quần sanh.
07/02/2013(Xem: 24028)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
06/02/2013(Xem: 10011)
Hòa thượng Bích Liên, thế danh là Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình (Thận Thần Thị), sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876), tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn, nay là ấp Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài sinh trưởng trong một gia đình nho học, được theo nghiệp bút nghiên từ nhỏ. Cha là Tú Tài Nguyễn Tự, mẹ là bà Lâm Thị Hòa Nghị . Năm 20 tuổi, Ngài lập gia đình với cô Lê Thị Hồng Kiều, người làng An Hòa, (nay thuộc xã Nhơn Khánh cùng huyện). Năm 31 tuổi, Ngài lều chõng vào trường thi Hương Bình Định và đỗ Tú Tài. Ba năm sau, Ngài lại đỗ Tú Tài lần nữa. Từ đó, biết mình long đong trên bước đường khoa bảng, Ngài giã từ lều chõng, ở nhà mở trường dạy học, mượn trăng thanh gió mát di dưỡng tính tình, lấy chén rượu câu thơ vui cùng tuế nguyệt.
03/02/2013(Xem: 8589)
Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
20/01/2013(Xem: 8481)
Phạm Công Thiện(1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Dưới đây là bài viết của Tâm Nhiên nhân sắp đến ngày giỗ của ông.
12/01/2013(Xem: 8355)
Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ.
07/01/2013(Xem: 9492)
Phần lớn độc giả biết nhiều đến các tiểu luận và các tập thơ phản chiến, nhưng ít người biết đến những bài thơ Thiền của Nhất Hạnh. Tôi xin trích một bài được nhà xuất bản Unicorn Press xuất bản trong tâp thơ Zen Poems của Nhất Hạnh vào năm 1976 (bản dịch Anh Ngữ) của Võ Đình. Bài này được in vào tuyển tập thơ nhạc họa vào mùa Phật Đản 1964
10/12/2012(Xem: 9681)
Cả cuộc đời 86 tuổi của Ngài Đội trời đạp đất, đã tròn chưa bản nguyện Kiếp tu hành 81 năm của Ngài Gánh vác hy sinh...
09/10/2012(Xem: 14947)
Thiền sư Lê Mạnh Thátcho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự. Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền phái Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ - Việt cũng như Việt - Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:
01/10/2012(Xem: 7921)
Kính bạch Giác Linh Đức Thầy, Dẫu biết rằng: “Cuộc đời là ảo mộng, vạn vật vốn vô thường, chuyển di không ngừng nghỉ, biến diệt lẽ tự nhiên, tử sanh không tránh khỏi.” Nhưng ân đức cao dày, tình thương nồng thắm, Đức Thầy đã ban cho hàng đệ tử chúng con, chẳng những được kết thành giới thân huệ mạng, mà còn mang lại cho cuộc đời giải thoát của chúng con vô vàn hạnh phúc… Ân đức ấy, mãi mãi khắc sâu vào cuộc đời tu học của chúng con vô cùng vững chắc, dù cho thời gian, sự vô thường có thay đổi...