ÂN SƯ

29/05/201320:21(Xem: 6638)
ÂN SƯ

94nitruongnhuhoa

ÂN SƯ

(Thành kính tưởng niệm Ni Trưởng thượng Như hạ Hoa)

Khi nói đến Ân Sư, Sư trưởng hay Giáo thọ Sư. Tất cả đều là tên gọi chỉ cho những bậc Thầy tinh thần, hình thành nên giới thân huệ mạng của người con Phật. Vị Ân Sư mà tôi muốn nói đó là vị Thầy Bổn Sư, người đã trực tiếp đứng ra tác lễ quy y và thế phát cho tôi. Ni Trưởng thượng Như hạ Hoa. Cầm bút viết về Thầy, khi bên ngoài lất phất những hạt mưa nhẹ, thoáng đâu đó cái lạnh dần đổ về. Trong tôi dâng lên bao nổi hoài niệm, cảm nhớ ơn Thầy và hình ảnh Thầy cứ dần hiển hiện trước mắt tôi.

Nhớ lại từ thuở xuất gia nương Thầy tu học, trong số đệ tử của Thầy, có thể nói tôi là người có tánh dị biệt và ngang bướng nhất. Có lẽ vì vậy mà Thầy tôi đã phải thương lo và quan tâm tôi nhiều hơn trong số huynh đệ. Nói như vậy không có nghĩa là tôi luôn được Thầy cưng chìu và cận kề bên Thầy đâu. Bởi thời đó tôi còn nhiều thô vụn lắm, đã vậy thì đừng mong có được cơ hội hầu Thầy. Tuy không được gần Thầy, nhưng tôi không bao giờ có cảm giác Thầy xa cách mình cả. Ánh mắt từ bi và nụ cười bao dung của Thầy đã nói lên được điều này. Vào mỗi khi Thầy đi Phật sự nhiều ngày mới về lại Bổn tự, thấy bóng Thầy ngoài cổng là tôi mừng vui đến reo hò lớn tiếng như trẻ nhỏ mừng mẹ về. Thầy tôi với ánh mắt đầy tình thương và niềm hoan hỷ, khẻ nhìn tôi nở nụ cười rồi nhè nhẹ nói:

- Con đừng lớn tiếng như vậy, đã là Sa di rồi, oai nghi tế hạnh của một cô Ni, con nhớ cần phải giữ gìn.

Tôi nhoẻn miệng cười tươi rồi lại lớn tiếng thưa vang:

-Dạ thưa Thầy con biết rồi!

Ngay đó, hai tay vội bưng miệng, vì biết mình đã phạm lại lỗi lầm. Thay vì quở rầy, Thầy chỉ lại cười và nhẹ nhàng bước đi. Tôi nối gót theo sau mà nghe lòng vui sướng lạ. Niềm vui sướng được đi bên Thầy dù chỉ vài mươi bước...!

Trong sự tu hành, tuy tôi có được nhiều may mắn hơn người, nhưng cạnh đó vẫn là trùng trùng nghiệp chướng luôn bủa vây, khiến cuộc sống tu hành của tôi luôn rất nhiều chìm nổi, lênh đênh, hoạn họa, oan khiên luôn tìm đến tôi không một chút nhân nhượng. Đã đôi lần tôi muốn bỏ cuộc vì mệt mõi, chán chường và tuyệt vọng. Bởi con đường tu sao mà gian nan quá! Nhưng không hiểu sao mỗi lần gặp nạn, mỗi khi có ý định buông xuôi tất cả thì Thầy luôn là người duy nhất bên cạnh giải nạn cho tôi, vực tôi đứng dậy mỗi khi tôi ngã dài trong lý tưởng tu hành. Và với tất cả tình thương, sự kiên nhẫn, Thầy luôn từng bước dắt dìu,an ủi, động viên, khuyến tấn :

- Huệ Nhật, con không được ngã, con hãy cố gắng vững tin mà đi tới…!

Câu nói tuy ngắn gọn nhưng nơi đó dung đầy tình thương của Thầy và tôi luôn nương vào đó mà lần bước đi tới, mãi đến bây giờ , hai mươi sáu năm rồi..!

Hai mươi sáu năm, ngần ấy thời gian, thế mà tôi vẫn chưa có được thành quả lớn lao gì trong tu học, để có thể kính dâng lên Thầy, như một món quà thay cho lòng hiếu đạo.

Người xưa nói : “Khi Thầy còn sống, đệ tử nên theo hạnh Thầy mà hành theo. Khi Thầy qua đời, nên xem nguyện Thầy mà noi theo”

Khi Thầy tôi còn hiện thế, lập hạnh, lập nguyên của Thầy nhiều lắm. Với đức tính nhẫn hòa, khiêm nhượng, nhân từ và độ lượng, Thầy luôn là hình ảnh tiêu biểu của một Đức Ni mô phạm khả kính được bao người ngưỡng quý, mến thương. Không biết phước duyên bao đời, tôi may mắn được nương Thầy thế độ. Nhưng có lẽ, trong đời tôi vẫn còn quá nhiều nghiệp chướng sâu dày, thế nên, dù cố gắng nhiều trong tu tập, nhưng tôi vẫn không thể noi theo được hạnh sáng của thầy. Có lẽ vì vậy mà trên bước đường tu hành tôi luôn gặp thất bại nhiều hơn là thành công, bị khiển trách nhiều hơn là khích lệ. Thật hổ thẹn thay khi nói lên lời này !

Nhiều lần tôi tự hỏi lòng mình :Mình phải thế nào đây đểđáp ân Thầy Tổ ?

Một vai trò trụ trì với mái cong Phật lớn, đệ tử đông vầy ?

Một giảng sư thuyết pháp (đó đây ) được nhiều người biết đến ?

Một vài học vị cao trong Phật học ? hay một thành đạt nào đó trong địc vị Giáo hội ?

Mọi điều như thế, có thể nói lên được lòng hiếu đạo của đệ tử đối với Ân Sư hay không ?

Nhớ thuở xưa kia, thiền sư Thần Tán sau nhiều năm du phương tham học với Tổ Bách Trượng. Sau khi ngộ được bản tâm, được tổ Bách Trượng Ấn chứng, liền đó Ngài trở về ngôi chùa củ, nơi chốn của Thầy bổn sư, tiếp tục lặng lẽ với công việc hầu Thầy, làm điệu.

Để đáp ơn Thầy thế độ, thiền sư Thần tán rất muốn giúp Thầy mình cũng được kiến tánh như Ngài. Thế nên, Ngài đã vận dụng mọi phương tiện hết lần này đến lần khác, với hy vọng một ngày rất gần Thầy mình sẽ liễu ngộ bản tâm.

Một hôm, nhân lúc vị Thầy đang chăm chú xem kinh. Ngài Thần Tán đứng bên hầu quạt, chợt thấy con ruồi đang lui hui nhủi đầu vào cửa sổ để tìm lối ra., Ngài Thần Tán liền lớn tiếng nói:

- Thế giới thênh thang rộng mở, sao không chịu ra, lại cứ dùi đầu vào cánh cửa biết đến khi nào mới ra được ?

Liền đó Ngài tiếp bài kệ :

Không môn bất khẳng xuất

Đầu song giả tự si

Bách niên toàn cố chỉ

Hà nhật xuất đầu thì

Tạm dịch:

Cửa trống chẳng chịu ra

Chui cửa sổ thật si

Trăm năm dùi giấy cũ

Ngày nào thoát ra được.

Vị Thầy nghe đệ tử mình nói thế, ngẩng đầu lên nhìn Ngài với đầy vẻ ngạc nhiên, rồi sau đó cuối đầu xem tiếp trang kinh mà không nói lời gì.

Lại một lần khác, nhân khi kỳ lưng cho Thầy, Ngài vỗ nhẹ trên lưng Thầy mà nói:

- Điện Phật tuy đẹp mà thánh không linh

Vị Thầy nghe thế liền nhìn Ngài, Thiền sư Thần Tán lại nói tiếp:

- Tuy Phật không thánh linh, nhưng vẫn có thể phóng quang..!

Sau khi tắm xong, vị Thầy liền hỏi Ngài Thần Tán :

Ngươi đi phương xa học đạo đã ngộ được gì ?

Ngài Thần Tán liền thưa:

- Con ở chỗ của Tổ Bách Trượng đã thấy được con đường tu hành, nay muốn báo đáp ơn Thầy.Liền đọc bài kệ của Tổ Bách Trượng :

Linh quang độc chiếu, quýnh thoát căn trần

Thể lộ chơn thường , bất cầu văn tự

Tâm tánh vô nhiễm, bổn tự viên thành

Đản ly vọng duyên, tức như Chư Phật.

Sau khi nghe xong bài kệ, vị Thầy liền tỏ ngộ khai tâm, bèn trãi tọa, theo pháp thỉnh Ngài Thần Tán đăng tòa thuyết Pháp.

Trong tâm mắt tôi, hình ảnh đó đẹp và cao vút làm sao! Việc làm đáp đền ân Thầy của thiền sư thần tán, nếu không là Bậc Đại khí, Đại lực, Đại hiếu thì sao có được hiếu Đạo, hiếu Tâm tuyệt vời như thế !

Ôn lại gương sáng người xưa, trong tôi dấy lên bao niềm ưu tư, vẫn câu tự vấn: “Phải thế nào đây để cân xứng ân Thầy ?”

Những Bậc đại tu xưa kia dùng sự đạt ngộ để báo đền thâm ân. Còn đối với tôi, một người tối căn, đa nghiệp, mạt hoc… Phải chăng tôi chỉ có thể bắt đầu bằng vào sự tu hành với tất cả thật tâm, thật nguyện, luôn phản hồi chính mình, từng bước đi tới trong sự dắt dìu đầy tình thương của Thầy, dù rằng Thầy nay đã đi rồi.

Một nổi hoài niệm, một nổi ngậm ngùi. Đốt nén tâm hương, con thành tâm khấn nguyện Giác Linh Thầy chứng tri !

Mây đi ai biết bao giờ lại

Xa cách chân trời dấu nhạn bay

Ánh lửa về đâu khi diêm tắt

Ai nghe tiếng vỗ một bàn tay …!

Perth. Tháng 4 năm 2007

Như Nhật

DSC00016

KHOẢNG CÁCH

Mỗi buổi sáng đi học, thay vì ngồi xe đến trường thì tôi lại chỉ thích đi bộ mà thôi. Những lúc như thế tôi có dịp tiếp xúc với bầu trời xanh, ngắm nhìn mây trắng bay và từng đàn chim lượn cánh hót vang, hít thở không khí trong lành của xứ Úc, ngưởi được mùi thơm của cỏ cây và vui cười cùng hoa lá. Tất cả tạo nên bức tranh thiên nhiên đầy sức sống.

Đi dọc theo những lối nhỏ, tôi lại có dịp ngắm nhìn những dãy nhà rất đẹp, rất xinh và trang nhã. Nhà cửa nơi xứ Úc được dựng xây một cách rất thanh nhã và thoáng mát, mà không nhiều cầu kỳ, lộng lẫy như những nơi khác, khiến người nhìn vào luôn có được cảm giác nhẹ nhàng và yên tỉnh. Mỗi nhà đều cách nhau bởi những khoảng đất rộng và được phân chắn bởi những bờ tường khá cao, không nhiều kiên cố nhưng đầy khoảng cách cho nhau.

Khác hẳn với quê hương mình, người ở đây nhà ai nấy ở, không ai qua lại với ai cả. Người ta có thể cả năm suốt tháng không biết mặt nhau, không nói với nhau một lời, dù hai nhà sát cạnh bên. Họ thật sự không có thời gian để nhìn nhau, phần lớn tất cả đều đổ dồn cho việc kiếm ra tiền, phần thời gian còn lại quá ít ỏi, không đủ để trang trãi cùng với người thân là vợ hay chồng, là con hay Mẹ… nói chi đến những người đâu đó cạnh nhà. Có qua đây rồi, tôi mới thấy được giá trị và sức mạnh của đồng tiền là như thế nào. Tất cả mọi người đều phải làm việc hết sức mình để đáp ứng cho nhu cầu sống quanh mình. Nhìn ra cuộc sống bên ngoài, ai ai cũng quá nhiều lo toan, chạy đuổi theo cơm áo, bạc tiền, danh thơm tiếng tốt và sự hưởng thụ nào đó. Còn những người như chúng tôi lẽ ra phải nhiều thảnh thơi lắm, bởi là con Phật mà. Ấy thế mà chúng tôi cũng phải bộn bề, lo tính bởi viêc dựng chùa, xây đạo tràng và cái gì đó gọi là Phật sự. Rồi thì cùng phải mọi điều cần phải có cho một ngày mai… Và thế là cũng như bao người, phải phương tiện hóa, với mọi diệu dụng quyền biến để có ra thu vào. Cuối cùng nhìn chung chẳng ai thoát ra khỏi lưới giăng của bạc tiền !

Như vậy cũng hay, bởi vì không còn ai còn nhiều sự ỷ lại bởi sự ban cho từ người, hay từ đấng thần linh, Phật trời. Và cũng nơi đây mọi người đều nhận ra được khả năng tự lực vốn có nơi chính mình.

Cuộc sống nơi đất Úc rất nhiều ổn định so với những quốc gia khác và thật sự là một nơi rất an bình, hiền hòa. Tôi có cảm giác hình như bao điều tốt lành đều đổ dồn cho xứ sở này. Một nơi có rất nhiều chủng tộc chung sống với nhau. Có quá nhiều sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, truyền thống… Ấy vậy mà tất cả đều có thể đến với nhau trong công việc một cách trôi chảy, từ đó dễ dàng có ra mọi điều cho chính mình và gia đình mình. Tuy nhiên, đời sống vật chất càng dư thừa bao nhiêu thì tình người càng thu hẹp lại bấy nhiêu. Người ta có thể cho ra bao lời nói vui đầy khách sáo, đẩy đưa ngoài miệng, nhưng lời nói thật và để đến với nhau trong chơn tình thì hiếm hoi quá, khó quá..! Trong vô tình hay dường như là một nguyên tắc chung của cuộc sống, ai nấy cũng đã và tự giam thêm mình trong những lồng son sơn thếp mà nơi đó chỉ có mặt dẫy đầy của sự ích kỷ, hơn thua, toan tính, của tranh chấp được còn… và để rồi không ai có thể đến cùng ai.

Mọi người thật sự đã quên mất một điều, chúng ta đang cùng đứng chung một mảnh đất và cùng thở bầu không khí chung của cả nhân loại.

Ước mong sao nhà với nhà chỉ ngăn cách bởi bờ tường, hay chỉ là hàng rào, bờ cỏ dại, mà không ngăn cách bởi tình người biết sống cho nhau

Để mỗi khi bình minh trở giấc, ánh mặt trời chiếu sáng, cả hai bên đều có thể chia cho nhau nụ cười và màu tươi của cuộc sống.

Như Nhật

(xem tiếp)

----o0o---


Vi tinh & trình bày: Thanh Phi - Như Trí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/01/2020(Xem: 12188)
Biểu đồ truyền thừa các tông phái Phật giáo từ Ấn Độ đến Việt Nam: Biểu đồ I.1: Thiền tông Ấn Độ Biểu đồ I.2: Thiền Ấn Độ Đến Trung Quốc Biểu đồ I.3: Thiền Trung Quốc – Huệ Năng và Môn Đệ Biểu đồ II.1: Dòng Mã Tổ Biểu đồ II.2: Dòng Mã Tổ Biểu đồ III.1: Tông Tào Động Biểu đồ IV.1: Tông Lâm Tế Biểu đồ IV.3: Dòng Lâm Tế – Viên Ngộ Biểu đồ V: Tông Vân Môn & Pháp Nhãn Biểu đồ VI.1: Thiền Nhật Bản – Cội nguồn của Phong Trào Ngũ Sơn Thập Sát Biểu đồ VI.2: Thiền Nhật Bản – Việc truyền bá thiền Lâm Tế từ Trung Quốc sang Nhật Biểu đồ VI.3: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế I Biểu đồ VI.4: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.5: Thiền Nhật Bản – Các chi phái của Tông Lâm Tế II Biểu đồ VI.6: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch I – Dòng Nam Phố Thiệu Minh Biểu đồ VI.7: Thiền Nhật Bản – Lâm Tế Chính Mạch II – Dòng Bạch Ẩn Biểu đồ VI.8: Thiền Nhật Bản – Đạo Nguyên và Tông Tào Động Biểu đồ VII.1: Thiền tông Việt Nam – Thiền phái Tì-ni-đa Lưu-c
01/01/2020(Xem: 14340)
Toàn thể môn đồ pháp quyến Thiền Tánh Không thành kính cáo bạch: Hoà thượng tôn sư thượng THÔNG hạ TRIỆT, đã thuận thế vô thường, thâu thần thị tịch vào lúc 12 giờ 04 phút sáng ngày thứ Sáu 27 tháng 12 năm 2019, (nhằm ngày mùng 2 tháng Chạp năm Kỷ Hợi) tại bệnh viện Memorial Hermann Southwest, Houston Texas, USA. Trụ thế 90 năm - Hạ lạp 45 năm - Lễ nhập kim quan và thọ tang sẽ được cử hành vào lúc 10 giờ sáng, ngày thứ Tư 01-01-2020 (nhằm ngày mùng 7 tháng Chạp, năm Kỷ Hợi) tại nhà quàn Vĩnh Cửu, địa chỉ 2454 S. Dairy Ashford Road, Houston TX 77077.
01/01/2020(Xem: 9427)
Vào ngày 28 tháng 12 năm 2019, chùa An Lạc tọa lạc tại số 1647 E. San Fernando Street, thành phố San Jose đã trang nghiêm tổ chức Lễ Chung thất Trai tuần đức cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quang. Tham dự buổi lễ, có Hòa thượng Thích Thông Đạt, viện chủ chùa Đại Nhật Như Lai; Thượng tọa Thích Thiện Long, trụ trì chùa Thiên Trúc, Thượng tọa Thích Từ Đức, Tu viện Kim Sơn; Ni trưởng Thích Nữ Nguyên Thanh, trụ trì chùa An Lạc; Ni trưởng Thích Nữ Tịnh Thường, trụ trì chùa Thường Quang; Ni trưởng Thích Nữ Như Tịnh, Đạo tràng Từ Bi; cùng chư Tôn đức Tăng, Ni, Huynh trưởng GĐPT và đông đảo Phật tử đến từ nhiều tự viện Phật giáo ở miền Bắc và miền Nam California.
24/12/2019(Xem: 12713)
Hòa Thượng Thích Quảng Bình (1948-2019) vừa viên tịch tại Quy Nhơn, Bình Định
19/12/2019(Xem: 10422)
Tôi biết đến Ni Sư Giới Hương 22 năm về trước, khi tôi du học đến Delhi, Ấn Độ. Đó là lúc Hội Lưu Học Sinh Việt Nam họp bàn kế hoạch tham quan Taj Mahal và danh lam thắng cảnh ở Delhi trước khi vào khóa học Mùa Thu, 08/1997. Vì NS Giới Hương đã du học Ấn Độ trước chúng tôi 2 năm và học ở Cử Nhân Phật Học, Đại Học Vạn Hạnh trước chúng tôi 1 Khóa ( NS học Khóa II, còn tôi Khóa III), nhưng những ấn tượng đầu tiên của chúng tôi lúc đó đối với Ni Sư là : gần gũi, thân thiện, hay giúp đỡ người khác, khiêm tốn, Anh Văn khá lưu loát, trân trọng những người xung quanh, vâng giữ Bát Kỉnh Pháp (thể hiện sự tôn Kính đối với những vị Tỳ Kheo cho dù nhỏ tuổi Đời và Đạo hơn mình). Chắc hẳn nhiều Ni Sinh trong Khóa chúng tôi mơ ước và thầm hỏi : không biết đến khi nào biết rành Anh Ngữ và Delhi như Ni Sư dạo ấy. Chuyến tham quan đó có nhiều kỷ niệm vui và diễn ra tốt đẹp. Mới đó mà đã hơn 20 năm trôi qua, cho đến nay, tôi nhận được lời mời viết bài đóng góp cho Kỷ Yếu : “Tuyển Tập 40 Năm Tu Học và Hoằ
18/12/2019(Xem: 19333)
Năm 2010: Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Ý chứng minh Đại Lễ Mừng Chu Niên 20 năm (1990-2010) Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu
17/12/2019(Xem: 8588)
Do niên cao lạp trưởng, Ni trưởng đã thuận thế vô thường, thuận tịch vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 19-11-Kỷ Hợi (nhằm ngày 14-12-2019), tại trú xứ Ni viện Diệu Đức; Trụ thế 94 năm, 66 hạ lạp. Ni trưởng thế danh Tôn Nữ Hồng Tường, pháp danh Tâm Từ, pháp hiệu Trí Viên, sinh năm Bính Dần (1926), tại phường Thuận Thành, cố đô Huế. Năm 1948, Ni trưởng được Đức Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết thế độ và cho thọ Sa-di-ni, ban pháp tự Diệu Tấn. Sau đó, Ngài gửi Ni trưởng y chỉ với cố Ni trưởng Thích Nữ Diệu Hương, tu học tại Ni viện Diệu Đức. Năm 1953, Ni trưởng được Bổn sư cho thọ giới Cụ túc.
14/12/2019(Xem: 10050)
Tú Quỳ là nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc của Quảng Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đồng thời với Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở miền Bắc, Học Lạc, Nhiêu Tâm ở miền Nam, thơ văn của ông từ nội dung đến ngôn ngữ đều thể hiện một tính cách đặc biệt – tính cách Tú Quỳ Quảng Nam.
13/12/2019(Xem: 15163)
Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam tập 3_Thích Đồng Bổn_2015, Phật giáo Việt Nam cùng với vận mệnh đất nước đã trải qua bao hưng suy thăng trầm của lịch sử. Nếu như nước nhà thời nào cũng có anh hùng thì Phật giáo giai đoạn nào cũng có danh Tăng dựng đạo giúp nước. Đó là những tấm gương sáng giá góp phần tạo nên lịch sử, đặc biệt là trong giai đoạn cận và hiện đại với công cuộc chấn hưng và phát triển Phật giáo song song với sự vươn lên của dân tộc.
27/11/2019(Xem: 16638)
Do niên cao lạp trưởng, Trưởng lão Hòa thượng đã thuận thế vô thường, thu thần viên tịch vào lúc 6 giờ 45 phút sáng nay, 27-11 (2-11-Kỷ Hợi) tại chùa Phước Thiện, phường B’Lao, TP.Bảo Lộc - trụ thế 96 năm, 73 hạ lạp. Trưởng lão HT.Thích Tánh Hải là Uỷ viên Thường trực HĐCM, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng, viện chủ chùa Phước Thiện (TP.Bảo Lộc).