Tiết IV

02/05/201317:25(Xem: 7447)
Tiết IV


TÂY PHƯƠNG NHỰT KHÓA
HT. Thích Thiền Tâm
Soạn thuật
---o0o---

CHƯƠNG III

TIẾT IV

GIẢI-THÍCH

BÀI NGUYỆN-HƯƠNG

A. Nguyện mây-hương mầu nầy, Hiện khắp mười phương cõi.

Hai câu kệ nầy ý dạy như sau:

1. Nghĩa thường (thông-nghĩa):

Là nói: - Con nguyện cho khói nhang mà con đốt để cúng-dường PHẬT ngày hôm nay, tại nơi đạo-tràng nầy - sẽ kết thành những đám mây hương rộng lớn bay khắp 10 phương, đến khắp các Phật độ, thay-thế con mà cúng-dường lên tất-cả chư PHẬT.

2. Nghĩa đạo (pháp nghĩa):

- Hương: Tức là mùi thơm của (người)đạo-đức, trong kinh gọi là "mùi hương phạm-hạnh".

Có tất-cả 5 loại "Hương phạm-hạnh" - Tức là "Ngũ phần danh hương" hay là "Ngũ phần pháp-thân hương" sau đây:

a. Giới hương:

Tức là hương thơm của người giữ tròn được các giới-hạnh của mình đã thọ. Kẻ đó ba nghiệp thân, khẩu, ý thảy đều trong sạch, không có lỗi lầm.

b. Ðịnh-hương:

Tức là mùi hương của các bậc giữ tâm được thanh-tịnh, không còn bị lâm vào các hoàn cảnh mừng, giận, thương, ghét, âu-lo ... của thường tình nhơn thế.

Tâm của quý ngài đã được ÐỊNH lại rồi, chớ không còn chạy theo trần-dục nữa.

c. Huệ-hương:

Tức là hương thơm trí-huệ.

Ðây là các bậc đã được cái TRÍ-HUỆ chơn thật (Trí-huệ Bát-nhã)và nhờ như vậy mà quý ngài nhìn thấu rõ cảnh đời là vô-thường, vinh-hoa là giả-tạm, thân-tâm đều hư-huyễn, biết rõ các lẽ thiện, ác và nhơn-quả, luân-hồi ...

Tức là hương thơm của các bậc đã được giải-thoát khỏi ba cõi, sáu đường ... Tâm ý của quý ngài không còn chấp trước vào trong tất-cả các pháp, tự-tại, vô-ngại như hư không.

e. Giải-thoát tri-kiến hương:

(Tri-kiến là thấy biết)

Ðây là mùi hương thánh-thiện của các bậc đã đạt được trí-huệ bát-nhã và giải-thoát ra khỏi sanh-tử, luân-hồi.

Với trí-huệ ấy, quý Ngài đều thấy biết tất-cả các pháp, thâm-nhập vào trong cảnh-giới của PHẬT, chứng được VÔ-SANH PHÁP-NHẪN.

Ðây là 5 loại hương thơm lành của các bậc thánh-giả. 5 loại hương nầy hiệp lại thì kết thành ra cái "PHÁP THÂN" giải-thoát - Vì thế nên gọi là:

"NGŨ PHẦN PHÁP-THÂN HƯƠNG"

Trong những bài nguyện-hương nơi các chốn thiền-môn có một bài nguyện về "ngũ phần pháp-thân hương" như sau:

Giới-hương, định-hương, huệ-hương,

Giải-thoát, giải-thoát tri-kiến hương.

Năm thứ hương nầy xông pháp-giới,

Cúng-dường Tam-bảo khắp mười phương.

Nam-mô

HƯƠNG-VÂN CÁI BỒ-TÁT (3 lần)

Hoặc là:

Lư-hương xạ-nhiệt,

Pháp-giới mông-huân.

Chư Phật hải-hội tất diêu-văn.

Tùy xứ kiết-tường vân,

Thành-ý phương ân.

Chư PHẬT hiện toàn thân.

Nam-mô

HƯƠNG VÂN CÁI BỒ-TÁT. (3 lần)

Trong văn-học (Quan Âm Thị-kính)có hai câu thơ sau đây:

...Hương xông, pháp giới ngùi-ngùi,

Thông reo tiếng kệ, trúc hồi mỏ kinh. (1)

... Có một dạo, ngài ANAN hỏi PHẬT rằng:

- Bạch đức THẾ-TÔN, trong tất-cả các mùi hương trên thế-gian nầy, có mùi hương nào bay ngược được chiều gió hay không ?

PHẬT đáp:

- Nầy A NAN, không một mùi hương nào mà có thể bay ngược chiều gió được cả. Ngoại trừ có một mùi hương, chẳng những bay ngược được chiều gió mà còn tỏa rộng khắp đến muôn phương.

A NAN thưa:

- Bạch THẾ-TÔN chẳng hay đó là loại hương gì ?

PHẬT đáp:

- Ðó là mùi hương của người tu PHẠM-HẠNH(tức là đạo-đức trong sạch).

Mùi hương mà Phật vừa nói đó chính là "Ngũ phần pháp-thân hương" vừa giải-thích ở trên đây vậy.

Tóm ý hai câu kệ nầy dạy như sau:

- Trong cuộc đời tu-hành của con, nếu như có được bao nhiêu công-đức, pháp lành chi, con nguyện xin dưng cúng-dường lên chư PHẬT khắp cả 10 phương pháp-giới.

B. Tất-cả các PHẬT độ, Vô-lượng hương trang-nghiêm.

Là ý nói:

- Trong tất-cả các PHẬT độ khắp 10 phương, có bao nhiêu các loại chúng-sanh, có bao nhiêu Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-tát ... con đều nguyện cho họ được trang-nghiêm pháp thân (của họ)bằng mùi hương vô-lượng công-đức "Ngũ phần pháp-thân" ấy, mãi-mãi cùng tận kiếp vị-lai, cho đến khi nào họ chứng-đắc được quả-vị VÔ-THƯỢNG BỒ-ÐỀ (thì lời nguyện của con mới mãn).

C. Ðầy-đủ Bồ-tát đạo, Thành-tựu NHƯ-LAI hương.

Là ý nói:

- Con nguyện cho khắp tất-cả chúng-sanh trong khắp tất-cả các PHẬT độ ở 10 phương, đều phát-tâm tu hành theo lời Phật dạy, mãi-mãi tinh-tấn không thối-chuyển, dần-dần đầy-đủ hết các đạo-hạnh của Bồ-tát và chứng được quả-vị VÔ-THƯỢNG BỒ-ÐỀ của Phật, thành-tựu được mùi hương Phạm-hạnh vi-diệu, tối-thượng của Như-lai.

D. Nam-mô HƯƠNG-VÂN CÁI bồ-tát:

Ðây là một vị đại Bồ-tát, tên của NGÀI là HƯƠNG-VÂN CÁI.

Ngài có lập ra một lời thệ-nguyện như sau:

- "Trong 10 phương quốc-độ, nếu có các chúng-sanh nào muốn dùng mùi hương dâng lên cúng-dường chư Phật, Như họ không được đầy-đủ phương-tiện, thì tôi sẽ thay-thế họ, biến những khói hương đó thành ra những đám mây-hương bay đến khắp tất-cả quốc-độ, thay-thế họ để cúng-dường khắp tất-cả chư PHẬT... Tôi cũng sẽ dùng sức thần-thông cùng bản-nguyện của tôi, ngầm gia-hộ cho các người thiện nam, thiện nữ đó sớm được thành-tựu căn lành, chứng hương-vị bồ-đề vô-thượng"....

Vì thế cho nên, trong các chốn thiền-môn và mọi khóa-lễ ... sau khi đọc xong lời nguyện-hương rồi, Phật-tử đều đồng xưng-niệm danh-hiệu của ngài là:

"Nam-mô HƯƠNG-VÂN CÁI BỒ-TÁT".

Ðể kết bài nguyện-hương, là có mật-ý muốn nương nơi nguyện-lực của NGÀI để cho khói hương ấy được biến-mãn khắp 10 phương, cúng-dường lên tất-cả chư PHẬT.

Ðức A-DI-ÐÀ Như-lai, khi còn làm PHÁP-TẠNG Bồ-tát, ngài có phát ra lời đại-nguyện như sau:

Nguyện thứ 32:

- "Giả-sử khi tôi thành PHẬT, thì từ dưới mặt đất trở lên cho đến hư-không, các cung-điện, lầu-các, ao, hồ, cây hoa, hết thảy muôn vật ở trong cõi nước, đều dùng bằng vô-lượng thứ trân-bảo và trăm ngàn các thứ hương hiệp lại mà thành, xinh-đẹp, kỳ-lạ hơn của các hàng thiên, nhơn.

Hương thơm ấy xông khắp vô-lượng thế-giới ở 10 phương. Các Bồ-tát nghe, ngửi được mùi hương ấy rồi, thảy đều tu theo PHẬT hạnh. Nếu không được như thế thì tôi thề chẳng lấy ngôi chánh-giác".

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 5863)
Cho phép con thành tâm kính cẩn chia buồn với quí ngài về nỗi mất mát lớn lao không sao tìm lại được. Ðối với kẻ hậu học, làm sao con không khỏi bồi hồi, luyến tiếc khi hay tin sự ra đi của cố Hoà thượng Thích Ðức Nhuận, người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Trong giờ phút này, nơi phương xa, một người đệ tử đã có nhân duyên muộn hầu cận, học hỏi nơi cố Hoà thượng khi còn ở Việt Nam, xin đảnh lễ chư tôn đức trong Tổ đình và xin quí ngài cho con có đôi lời bộc bạch với giác linh của cố Hoà thượng. Ngưỡng bạch giác linh Hoà thượng chứng giám.
09/04/2013(Xem: 9560)
Hòa Thượng Thích Thiện Trì thế danh Nguyễn Văn Hiến, Pháp danh Như Phụng, Pháp tự Thiện Trì, Pháp hiệu Ấn Ðạo thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi hai, Ngài sanh ngày 19 tháng 02 năm 1934 tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Ðịnh. Ngài xuất thân từ một gia đình thuần túy Phật Giáo, thân phụ của Ngài là cụ ông Nguyễn Hàn, Pháp danh Như Ðà. Thân mẫu của Ngài là cụ bà Bùi Thị Thiệp, Pháp danh Như Cảnh. Ngài có tất cả 10 anh em, 5 trai và năm gái.
09/04/2013(Xem: 28273)
Để ghi lại những công –tác Hoằng-pháp và Giáo-dục trong niên-khóa vừa qua, chúng tôi đã thuyết-pháp và giảng-giải các lớp ở Ấn-Quang cho hàng Phật-Tử tại gia, cũng như tại Viện Đại Học Vạn-Hạnh cho sinh-viên Phật-khoa năm thứ IV (73-74) về môn các tác phẩm Trung-Hoa. Và cũng thể theo lời yêu cầu của đa-số Phật-tử muốn có tài-liệu để học-tập và nghiên-cứu, nên chúng tôi gom góp các bài đã biên-soạn, đúc kết thành một tập sách với nhan đề: “GƯƠNG SÁNG NGƯỜI XƯA”.
09/04/2013(Xem: 13651)
hế danh của Sư Bà cũng chính là Ðạo Hiệu hiện tại. Song Thân khó nuôi con, nên lúc 2 tuổi hai Cụ đã đem vào chùa cúng cho Sư Bà Ðàm Soạn, Trú trì chùa Cự Ðà và được Sư Cụ đặt tên là Ðàm Lựu. Phụ thân của Sư Bà là Cụ Ông Ðặng Văn Cán và Mẫu thân là Cụ Bà Nguyễn Thị Cả. Sư Bà sanh vào ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu, 4.811 Quốc Lịch; nhằm ngày 04 tháng 08 năm 1933 Tây lịch; tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông, Bắc Việt Nam.
09/04/2013(Xem: 9177)
Hòa Thượng Thích Như Điển, thế danh Lê Cường, Pháp tự: Giải Minh, Pháp hiệu: Trí Tâm, sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xã Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Học lực: Cử nhân giáo dục và Cao học Phật giáo tại Nhật Bản. Gia cảnh: Con út trong số 8 người con gồm 5 trai và 3 gái; Thân phụ: Ông Lê Quyên, pd: Thị Tế, Thân mẫu: Bà Hồ thị Khéo, pd: Thị Sắc. Người anh thứ bảy đã xuất gia đầu Phật năm 1958 tại chùa Non Nước, Đà Nẵng. Hiện là Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, Hội Chủ Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tại UĐL-TTL, Phương Trượng Tự Viện Pháp Bảo tại Sydney, Úc Đại Lợi.
09/04/2013(Xem: 16635)
Tuyển tập Nhạc Phật Giáo do Nhạc Sĩ Hằng Vang (1933-2021) sáng tác
09/04/2013(Xem: 12071)
Nhìn tổng quát công trình nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử, Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu, một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên dòng sử mệnh quê hương.
09/04/2013(Xem: 20723)
Vua Trần Nhân Tông là một vị anh hùng dân tộc, có những đóng góp to lớn, nhiều mặt cho đất nước, cho lịch sử. Vua đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân nước ta, tập hợp được những nhà quân sự tài giỏi, huy động được tiềm lực của toàn dân, đánh thắng đội quân hung hãn, thiện chiến nhất thời bấy giờ, làm nên những chiến công oanh liệt Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, Tây Kết lẫy lừng, đưa dân tộc ta lên đỉnh cao của thời đại. Không những thế, vua đã mở rộng biên cương của tổ quốc, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp nam tiến hoành tráng của dân tộc, mà con cháu hôm nay và mai sau mãi mãi ghi nhớ và biết ơn.
09/04/2013(Xem: 17679)
Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung. Từ nửa cuối thế kỷ 18, cuộc đời và tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đã lôi cuốn sự chú ý của những người trí thức đương thời, trong đó nổi bật nhất là nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784).
08/04/2013(Xem: 12120)
Tôi may mắn được diện kiến Người một lần duy nhất, vào năm 1990, tại Chùa Huê Lâm, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc ấy, tôi làm trợ lý cho thầy Thích Phước Cẩn trong việc vận động phiên dịch và ấn hành Phật Quang Đại Từ Điển. Tôi được Người ân cần khích lệ và truyền trao những kinh nghiệm quý báu về cuộc đời tu học và làm việc Phật sự của Người, trong hơn năm mươi năm qua. Lúc ấy, Người đã tròn 80 tuổi. Sức khỏe của Người còn khá tốt. Tinh thần của Người sáng suốt khác thường. Giọng nói của Người thật từ tốn, nhẹ nhàng.