Thế giới hòa đồng.

09/04/201312:47(Xem: 6849)
Thế giới hòa đồng.

THẾ GIỚI HÒA ĐỒNG

HỘI LUẬN GIỮA H.H THE DALAI LAMA& TÁM NHÀ TÂM LÝ HOA KỲ

Bản dịch:Chân Huyền

Nhuận sắc: Chân Văn

Kính Lễ

BẬC ĐẠO SƯ

CHƯ PHẬT ĐÀ

PHÁP BẢO

TĂNG GIÀ

BỔN TÔN

DAKINI

(DAKA)

Chúng sinh vô biên thệ nguyệnđộ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phước trí vô cùng thệ nguyện tu

Như Lai vô số thệ phụng sự

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành

Tán thán Phật tử

BANTHIENPHAPTRI, NGƯỜI CÓ ĐẠI NGUYỆN

TUYÊN XƯNG MẬT THỪA ĐỂ LÀM LỢI LẠC CHÚNG SANH

CẦU CHO NGUYỆN ẤY THỂ NHẬP VÀO BIỂN TUỆ

CỦA CHƯ PHẬT BA ĐỜI

LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn sách này là kết quả ủa ba ngày hội luận giữa đức Đạt lai lạt ma cùng tám bác sĩ tâm thần và học giả Hoa Kỳ về ngành tâm lý. Cuộc hội luận diễn ra vào tháng 10 năm 1989 tại NewPort Beach, California. Chính đức Đạt lai lạt ma đã yêu cầu tổ chức cuộc đối thoại này vì ngài muốn học hỏi thêm về tương quan giữa đạo Bụt với ngành tâm lý học, và ngài muốn tìm hiểu thêm về tâm tình người tây phương. Cũng trong tuần lễ này, chỉ vài giờ sau khi cuộc hội luận kết thúc, Ngài được hàn lâm Viện Thụy Điển báo tin sẽ phát giải Nobel hoà bình 1989 cho ngài.

Cuộc hội luận nhằm mục đích tạo một khung cảnh thích hợp để trao đổi những hiểu biết về đạo Bụt, về tâm lý học và sự liên hệ giữa lương tâm từng cá nhân với các vấn đề chung trên thế giới.

Ngoài các hội thảo viên chính, có cả ngàn người tới dự thính. Sau mỗi buổi nghe hội luận dài khoảng một giờ rưỡi đồng hồ, thính giả được chia thành từng nhóm nhỏ (25 người một nhóm) để bàn luận, trao đổi ý kiến thêm. Các hướng dẫn viên của nhóm đúc kết các câu hỏi đưa lên các hội luận viên, thêm vào đề tài đối thoại sau. Vì vậy, mọi người đều được tham dự tích cực. Chính đức Đạt lai lạt ma đề nghị phương thức này, để giúp cho đại chúng có cơ duyên được chuyển hoá trong thời gian tham dự hội luận.

Theo lời mở đầu của tiến sĩ tâm lý Daniel Goleman, tuy hiểm hoạ nguyên tử có thể ít trầm trọng hơn thời trước, thế giới chúng ta vẫn đang ở trong thời lỳ có thể bị huỷ diệt vì sinh môi đang bị hư hoại: sa mạc lan rộng, nước và không khí bị ô nhiễm, trái đất nóng lên, tầng Ô-zôn bị thủng lớn và hàng mẫu rừng bị tàn phá mỗi phút…Chúng ta cũng tàn hoại loài người y như chúng ta đang làm huỷ hoại quả đất. Tuy ngày nay ta sản xuất thực phẩm ê hề, nhưng số người đói ăn vẫn rất đông đảo. Sự cách biệt giữa hai tầng lớp giàu-nghèo quá lớn. Khoa học và kỹ thuật tân tiến cho phép ta sử dụng thiên nhiên quá sức chịu đựng của nó.

Trong thế kỷ 20 này, lịch sử đã ghi những vụ thảm sát tệ hại nhất như vụ Hitler giết 6 triệu dân Do Thái, Khờ-Me đỏ tiêu diệt cả triệu người Căm-Bốt (trên tổng số hơn 6 triệu dân), hàng triệu người bị các lãnh tụ Cộng sản Staline và Mao Trạch Đông thanh trừng trong đó có cả một triệu người Tây Tạng.

Cũng theo Daniel Goleman, với những phương tiện truyền thông hiện đại, chúng ta không thể chạy tội, nói là vì mình không hay biết những vấn đề kể trên. Chúng ta thấy rất rõ những khổ đau của con người và của cả trái đất. Thế giới chúng ta không còn sự hài hoà. Đó là lý do khiến cuộc hội luận này được tổ chức.

Đức Đạt lai lạt ma thứ 14 tên là Tenzin Gyatso. Ngài là người đại biểu cho nền văn hoá Phật giáo mà căn bản là từ bi và trí tuệ. Ngài là vị lãnh đạo tinh thần và quốc trưởng của Tây Tạng từ năm 1951, khi ngài mới 15 tuổi. Từ năm 1959, ngài sống lưu vong tại Dharamsala, phía bắc Ấn Độ, vẫn lãnh đạo chính phủ lưu vong Tây Tạng và vẫn được coi là vị lãnh đạo tinh thần tối cao của dân tộc Tây Tạng. Ngài đi vòng thế giới giảng Phật Pháp và làm việc để hỗ trợ các tổ chức tôn giáo, văn hoá và giáo dục của Tây Tạng. Ngài cũng vận động bằng các phương cách hoà bình cho nền độc lập của xứ Tây Tạng còn đang bị Trung Cộng chiếm đóng. Ngài đã viết và cho xuất bản nhiều sách: tự do trong lưu đày, dân tôi nước tôi (Văn Nghệ đã in bản dịch), sự thông tuệ và tín giác v.v..

Đức Đạt lai lạt ma sanh 1935. Ngài được coi là hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Dù Tây Tạng bị Trung Quốc chiếm đóng và xử phạt rất tệ hại, khi nói về dân hay nước Trung Hoa, Ngài vẫn dùng lời lẽ rất lịch sự, ôn nhu, thể hiện đúng tin thần từ bi hỷ xả của đạo Bụt.

Ngoài đức Đạt lai lạt ma, có tám học giả Hoa Kỳ tham dự hội luận:

1-Jean Shinoda Bolen: Bác sĩ chữa tâm bệnh, giáo sư tâm lý tại một đại học y khoa vùng San Francisco. Tác giả nhiều sách về tâm lý như The Tao of Psychology, Goddesses in Every woman…

2-Margaret Brenman-Gibson: Tiến sĩ tâm lý, giáo sư đại học Havard (bệnh viện Cambridge). Bà cũng là chuyên viên nghiên cứu về tâm lý thời hiện đại, đã xuất bản nhiều sách.

3-Daniel Brown: Tiến sĩ tâm lý, giáo đốc một trung tâm y khoa vùng Boston, chuyên chữa các nạn nhân bệnh tâm thần vì đàn áp chính trị hay vì bị tra tấn. Giảng sư tại đại học Havard. Ông đã dịch nhiều sách về thiền tập từ tiếng Phạn (Sanskrit) và tiếng Tây Tạng sang tiếng Anh.

4-Jack Engler: Tiến sĩ tâm lý, một trong những người tiên phong trong việc thiết lập tương quan giữa tâm lý học tây phương và ngành Duy Thức của Phật giáo. Sáng lập trung tâm Phật học tại Barre, Massachusetts. Viết nhiều sách về tâm thức.

5-Daniel Goleman: Tiến sĩ tâm lý, nhà báo đã từng được giải thưởng (làm cho báo NewYork Times) hoạt động trong lãnh vực thiền tập, giải toả sự căng thẳng (antistress). Ông là điều hợp viên của cuộc hội luận này. Là tác giả các sách The Mediatative Mind, The Creative Spirit.

6-Joanna Macy: Tiến, học giả về Phật học và sinh môi. Hoạt động tích cực trong việc đẩy mạnh các công việc xã hội tại những nước đang phát triển. Làm việc tại đại học San Francisco và Berkely. Tác giả nhiều sách như World as lover, World as self; Dharma and development; Thinking like a mountain.

7-Stephen Levine: Thi sĩ, dạy thiền nổi tiếng thế giới vì ông giúp nhiều người sắp qua đời sống một cách an nhiên trong giai đoạn cuối. Tác giả nhiều sách về sinh tử. Sống trong rừng vùng New Mexico, mỗi năm chỉ đi giảng vài khoá. Tác giả sách A Gradual Awakening, Who dies? Healing into Life and Death, Exploration and Healing….

8-Joel Edelman J.D: Luật sư, làm trung gian hoà giải các vấn đề gia đình hay trong xí nghiệp. Tu tập theo đạo Phật. Là người điều hợp và tổ chức các nhóm nhỏ cho thính chúng tham dự hội luận.

Tiểu sử của những tâm lý gia kể trên đều được ghi nhận vào thời kỳ tổ chức hội luận (1989).

---o0o---

Vi tính: Tường Chánh

Trình bày: Vĩnh Thooại

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/02/2012(Xem: 5689)
Đức Phật xuất thân từ một chiến binh đẳng cấp và ngài được sinh ra trong xã hội với các vị vua, hoàng tử và các quần thần. Mặc dù nguồn gốc và sự liên hệ của Ngài như thế, Ngài không bao giờ viện đến sự ảnh hưởng của quyền lực chính trị để giới thiệu trong sự giảng dạy của Ngài, và cũng không cho phép Giáo pháp của Ngài lạm dụng sự ảnh hưởng này để đạt được quyền lực chính trị.
15/02/2012(Xem: 5983)
Lý tưởng nhất, giáo dục là công cụ chủ yếu của việc tăng tiến con người, cần thiết cho việc thay đổi trẻ con mù chữ thành một người lớn trưởng thành và có trách nhiệm. Tuy nhiên, ngày nay ở khắp mọi nơi, cả trong các nước phát triển và các nước đang phát triển, chúng ta có thể thấy rằng hình thức giáo dục đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Sự giảng dạy lớp học đã trở thành thông lệ và được vỗ về rằng trẻ em thường cân nhắc việc học và thực tập trong sự kiên nhẫn chứ không phải là một cuộc mạo hiểm trong học tập.
14/02/2012(Xem: 8749)
Phật Giáo khuyên chúng ta phải luôn giữ sự chính xác và phải chú tâm đến từng cảm nhận của mình trong cuộc sống, trong mỗi tư duy, trong từng xúc cảm, và mỗi hành động của mình.
25/01/2012(Xem: 7104)
Phật tử phải có trách nhiệm bảo tồn và duy trì di sản Phật đã để lại. Phật tử phải sống với triết lý của vô thường và tìm ra những phương thức mới để khuyến khích đa số quần chúng.
25/01/2012(Xem: 6941)
Tôn giáo có mặt cùng thời với lịch sử con người. Có vật chất, tất phải có tinh thần. Có sống chết, có hiện tượng còn mất trong đời sống vật lý, tất phải có các mô thức tâm lý và tâm linh để chống lại sự mất còn bèo bọt đó. Từ đấy, tham vọng bất tử của con người là phải xây dựng một hệ thống thần linh để nuôi lớn hy vọng (có thật)thành đức tin (ước mơ)rằng, con người sẽ sống đời vĩnh hằng sau khi chết trong một thế giới thiêng liêng của thần linh... Sự chuyển mình từ sức mạnh thần quyền sang sức mạnh nhân quyền trong nhiều khía cạnh vi tế và phức tạp của đời sống đã làm cho đạo Phật mỗi ngày một hiển lộ trước cái nhìn tỉnh thức của nhân loại.
09/01/2012(Xem: 22282)
Con người và loài thú đều giống nhau: đói thì kiếm ăn,khát thì kiếm nước uống, cũng đều duy trì bản năng sinh tồn như nhau. Loài thúcũng biết tổ chức theo từng đàn để bảo vệ cho nhau. Chúng cũng có cảm xúc âu yếm, đùa giỡn bên nhau, đó làsự biểu lộ hạnh phúc của chúng. Nhưng chúng không biết tư duy, vì vậy chúng vẫnlà loài thú...
07/01/2012(Xem: 9203)
Trong sự phát triển quá nhanh chóng của xã hội ngày nay, phật tử khắp nơi trên thế giới trở nên linh hoạt hơn trong việc bảo vệ lẫn truyền bá tư tưởng đạo Phật của họ. Với con số khoảng 500 triệu phật tử, đạo Phật được xem là tôn giáo lớn nhất thứ tư của hành tinh này. Đạo Phật có hai tông phái chính: Theravada (Phật giáo Nguyên thủy) và Mahayana (Phật giáo Đại thừa) cùng nhiều môn phái khác, trong đó gồm có môn Thiền quen thuộc cùng những bản kinh dịch khác nhau của người Tây Tạng...
05/01/2012(Xem: 6916)
Nền giáo dục hòa bình của Đạo Phật là một con đường đạo đức nhân bản và thiết thực, là căn cứ trên chân lý từ bi, công bằng và ngay thẳng để thông cảm giữa những quốc gia, chủng tộc, cộng đồng và tôn giáo, nhằm mục đích thiết lập một cuộc sống ổn định, hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Việc diệt trừ tham ái thì có rất nhiều lợi ích, mang lại cuộc sống an lạc, hạnh phúc và giải thoát ngay trong cuộc đời này. Trên thực tế thì có rất nhiều lợi ích, ở đây người viết chỉ nêu những lợi ích chính về hòa bình, về môi trường, và đạo đức.
31/12/2011(Xem: 9018)
Mọi người đều biết là Đức Phật không hề bắt ai phải tin vào giáo lý của Ngài và Ngài khuyên các đệ tử hãy sử dụng lý trí của mình dựa vào các phương pháp tu tập...
28/12/2011(Xem: 4859)
Chữ Nghèo(Bần) và Nghèo Hèn(Bần Tiện, Bần Cùng) đã có từ ngàn xưa chứ không phải đời nay mới có. Cái nghèo đã gây ra biết bao thảm cảnh xã hội nhưng nó cũng là nguồn cảm hứng cho bao “ca khúc đoạn trường” như “LesMisérables” (Những Kẻ Khốn Cùng) của Victor Hugo mà Hồ Biểu Chánh đã mô phỏng theo với “Ngọn Cỏ Gió Đùa”… rồi “Gánh Hàng Hoa” của Nhất Linh đã làm cho chúng ta rơi lệ.