Cải cách tâm trước hết

09/04/201316:15(Xem: 8261)
Cải cách tâm trước hết

chu-Tam

 

Trước hết, cho phép tôi với tư cách là một Phật tử có tuổi, hiện nay đang giảng dạy Phật học ở Học viện Phật giáo tại TP. Hồ Chí Minh, gởi lời nồng nhiệt chào mừng quý vị, tán thán những Phật sự mà quý vị đã và đang làm, vì tương lai của trẻ thơ, vì hạnh phúc của đồng bào nghèo.

Những việc làm của quý vị rất bình thường và thiết thực, và cũng chính vì lẽ bình thường và giản đị đó mà chúng có ý nghĩa rất lớn lao. Những việc làm này, ở đâu cũng làm được, miễn là chúng ta có một tấm lòng.

Vì sao đạo Phật đề cao chữ Tâm?

Đó là vì Tâm hay lòng là cái tinh yếu nhất, cốt lõi nhất trong con người và trong mọi hành động của con người. Ở các chùa Việt Nam, trong các khóa lễ sớm hay chiều, Tăng Ni Phật tử thường tụng một bài kinh ngắn gọi là Tâm kinh. Tâm kinh tuy chỉ có 120 chữ nhưng lại là tinh yếu, là cốt lõi của ba tạng kinh điển Phật giáo gồm có hàng nghìn quyển và hàng vạn lời. Cũng như vậy, hoạt động của con người tuy đa dạng nhiều màu nhiều vẻ, nhưng giá trị đích thực của chúng, nói cho cùng, cũng chỉ quy về một chữ Tâm mà thôi. Vì vậy mà thi hào Nguyễn Du, trong đoạn kết thúc Truyện Kiều, đã viết:

“Thiện căn bởi tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Đúng như vậy, gốc của mọi điều thiện, tức thiện căn, chính là ở nơi lòng người, tâm người. Có tài không bằng có tâm, bởi vì như thi hào Nguyễn Du nói:

“Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần”

Chữ tài không những có giá trị chỉ bằng một phần ba chữ tâm, mà chữ tài lại thường kéo theo tai họa, nếu người có tài mà không có tâm tốt, không có lòng lành.

Chúng ta hãy nghĩ xem. Tham nhũng thường là những người có chức có quyền. Họ không phải là người bất tài. Nhưng vì thiếu cái tâm vì dân, vì nước, cho nên càng có tài, càng tham nhũng, càng đục khoét tợn. Thậm chí họ còn lý luận: Hy sinh đời bố, củng cố đời con. Họ không nhớ lời Bụt dạy: Tham thì thâm.

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham. Thế là cái gì phải đến đã đến. Nhà lao Chí Hòa mở cửa đón họ, thậm chí súng của pháp trường kết liễu đời họ.

Đối với đạo Phật, tất cả những lời nói hay những cử chỉ gọi là đẹp, nếu không xuất phát từ tấm lòng thật sự thiện, thì chỉ là vô nghĩa, hay chỉ là giả dối kệch cỡm mà thôi. Vì vậy mà trong dân gian có câu: Của người Bồ tát, của mình lạt buộc.

Ý nói, đối với của cải người khác, của Nhà nước, của dân thì mình phung phí, xài lớn như vứt tiền qua cửa sổ, thế nhưng đối với đồng tiền của chính mình, hay của gia đình mình thì ky bo, tính toán chi li từng đồng xu. Ý nói đối với của người thì xử sự như là Bồ tát là theo nghĩa như vậy.

Chính như vậy mà tu theo đạo Phật, chủ yếu là tu tập cái tâm của mình khiến cho tâm trước đây nghĩ điều ác thì nay chỉ nghĩ điều thiện, điều lành mà thôi, mà cũng nhờ cái tâm suy nghĩ toàn điều thiện mà trước kia tâm bị mê mờ, thì nay tâm trở nên sáng suốt, cái tâm trước kia tán loạn, nay trở nên định tĩnh, thanh thản. Hạnh phúc đích thực của con người, chính là cái tâm bình tĩnh sáng suốt và thuần thiện đó.

Trong kinh Pháp Cú, một kinh nổi tiếng thuộc Phật giáo Nam tông, có hai bài kệ 42 và 43.

“Kẻ thù hại kẻ thù

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm hướng tà

Gây ác cho tự thân”

Ý tứ bài kệ nói: Cái tâm nghĩ ác, đem lại tai hại cho mình còn hơn là kẻ thù hại mình.

Trái lại, có những điều tốt lành mà cha mẹ, anh em, bà con muốn làm cho mình, thì chính cái tâm hướng thiện còn làm tốt hơn. Vì vậy, bài kệ 43 kinh Pháp Cú viết:

“Điều mẹ cha bà con

Không có thể làm được

Tâm hướng thiện làm được

Làm được tốt đẹp hơn”

Đức Phật từng ví thân tâm người thiện như cái cây, hút toàn những chất ngọt ở trong đất và thân tâm người ác như cái cây có bộ rễ hút toàn những chất đắng ở trong đất. Vì sao cảnh ngộ của người thiện thường là an vui, may mắn, tiếng lành đồn xa. Còn cảnh ngộ của người ác thì bức xúc và đầy lo âu, gặp chuyện bất hạnh, và tiếng dữ của người này cũng đồn xa, bạn bè và người thân đều lánh mặt! Lý do nói cho cùng cũng là do một bên thì tâm nghĩ toàn điều thiện, và một bên thì tâm nghĩ toàn chuyện ác.

Đó chính là bài học đầy minh triết của đạo Phật cũng như của nhiều đạo giáo khác. Đó cũng là bài học của cuộc sống. Cách đây vài ngày, đúng vào ngày 2 tháng 9, tôi có gặp lại ngài nguyên Cố vấn Phạm Văn Đồng, vốn là thủ trưởng của tôi ở Phủ Thủ tướng từ năm 1950 đến 1960, ngài Phạm Văn Đồng tuy đã 94 tuổi nhưng vẫn tráng kiện và minh mẫn. Ngài giơ tay ra và xăn áo lên để cho tôi nắn. Tuy tay tôi nắn rất mạnh, nhưng ngài vẫn không nhúc nhích. Đúng là ngài còn rất khỏe, không phải là thượng thọ mà là thượng thượng thọ. Ngài cười và nói: “Tôi khỏe như thế này cũng là nhờ ông Phật”.

Đối với đạo Phật, thì Phật tức là lòng. Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhà Phật học xuất sắc nhất đời Trần, và là thầy dạy của vua Trần Nhân Tông có làm bài ca với đầu đề “Phật tâm ca” và mở đầu với hai câu: “Phật tức Tâm, Tâm tức Phật..."

Nhà đại văn hào Nguyễn Trãi đời Hậu Lê cũng viết: “Bụt ấy là lòng, Bụt há cầu”.

Nếu lòng chúng ta, tâm chúng ta trong sáng, thanh thản, nghĩ toàn điều tốt lành, thì tâm chúng ta, lòng chúng ta tức là Phật rồi, không cần cầu ông Phật ở đâu xa. Khi ngài Phạm Văn Đồng nói nhờ ông Phật mà ngài có sức khỏe, có phải chăng ngài muốn nói về già, đến hơn 90 tuổi, tâm của ngài, lòng của ngài đã trở nên thanh thản, bình lặng, trong sáng, không còn mong cầu gì nữa, ngoài mong cầu cho đất nước yên bình, xã hội giàu mạnh và công bằng, nhân dân được hạnh phúc.

---o0o---


Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2013(Xem: 9674)
Nhiều người cho rằng đức tin và trí tuệ trong thiền quán (vipassanà) đối nghịch nhau, mâu thuẫn và không thể phối hợp. Không phải vậy! chúng thân hữu và là hai nội lực quan trọng. Trong thông tin vừa rồi, tôi đã viết về những điểm đặc thù và khác biệt giữa các hành giả châu Aù và phương Tây.
07/03/2013(Xem: 11777)
Không ít ngôi chùa hiện nay đang có chiều hướng “tư nhân hoá” dưới danh nghĩa trùng tu lại, xoá sạch dấu vết gắn bó một thời của người dân địa phương, trở thành sở hữu riêng của vị trụ trì và một số đại gia có tiền bạc và quyền thế. Văn hoá Phật giáo Việt Nam sẽ hội nhập như thế nào với thế giới? Phật giáo Việt Nam sẽ đưa hình ảnh gì của mình ra bên ngoài? Những câu hỏi này được đặt ra từ lâu trước thực tế các quốc gia, dân tộc, tôn giáo trên thế giới đang ngày càng có nhiều hoạt động thúc đẩy quảng bá cho sức mạnh mềm văn hoá.
28/02/2013(Xem: 8222)
Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài trả lời phỏng vấn của Paul F. Knitter, Giáo sư thần học về các Tôn giáo Thế giới và Văn hóa tại Chủng viện Union ở Hoa Kỳ và là tác giả cuốn sách “Không Học Phật, Tôi Đã Không Thể Là Một Con Chiên- Without Buddha I Could Not Be A Christian”.
21/01/2013(Xem: 7998)
Sự nhận thức quan trọng này gợi ý cho chúng ta rằng nếu có thể dạy cho trẻ em thực hành kỷ luật khi còn nhỏ, thì sẽ đem lại lợi ích cho bản thân các em khi trưởng thành và cho xã hội.
21/01/2013(Xem: 7580)
Tiến sĩ Thupten Jinpa chuyển vai trò thông dịch sang thuyết trình. Ông bắt đầu với lý thuyết Phật giáo thời kỳ sơ khởi về nguyên tử và đề cập đến các xu hướng giản hóa luận trong thời kỳ này. Ông cũng chỉ ra rằng không có bất kỳ quan điểm giản hóa luận nào của các nhà tư tưởng Phật giáo đã quy giản tâm thức về vật chất thuần túy. Nhà hiền triết Aryadeva, đệ tử của đạo sư Long Thọ, đã viết các tranh biện với các luận thuyết thời kỳ sơ khởi là ở trong khía cạnh các quan điểm về tính rời rạc và về lý nhân quả. Trong khuôn khổ của Hai Chân lý thì tất cả các trường phái tư tưởng Phật giáo đều đồng quan điểm về chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét rằng nếu Cơ học Lượng tử được luận giải trong bối cảnh này, thì sẽ dễ dàng nắm bắt hơn.
28/12/2012(Xem: 13604)
Trong bầu không khí trang nghiêm, hòa hợp, thắp sáng niềm tin vào nền giáo dục nhân bản Phật giáo của ngày Hội thảo Giáo dục Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VI (2007 -2012) của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương với chuyên đề “Giáo dục Phật giáo Việt Nam định hướng và phát triển”, tôi xin phát biểu một số ý kiến chung quanh vấn đề Giáo dục Phật giáo như sau:
17/12/2012(Xem: 5976)
Nhu cầu cần thiết để tổ chức khóa tu dưỡng giảng sư là để tạo điều kiện cho Tăng Ni và trụ trì các Tự Viện có đủ năng lực phục vụ Đạo Pháp, mở ra và định hướng cho thế hệ trẻ tương lai, đem Đạo Phật vào tận các nơi xa không có hình bóng chư tăng hoằng pháp.
10/10/2012(Xem: 15396)
Tôi muốn nói về sự thích hợp của tôn giáo trong thế giới hiện đại. Vì bản tánh tự nhiên, tất cả mọi người đều có sự cảm nhận về tự ngã, và từ đó, họ sẽ trải qua các hiện tượng mà họ nhận thức được bằng cảm giác khổ đau, vui sướng hay trung tính... Nếu nền tảng đổi thay thì dĩ nhiên cái danh xưng đặt để cho nó cũng phải thay đổi. Vì vậy, không có một linh hồn thường hằng, bất biến...
03/10/2012(Xem: 4181)
Tôi muốn nói về sự thích hợp của tôn giáo trong thế giới hiện đại. Vì bản tánh tự nhiên, tất cả mọi người đều có sự cảm nhận về tự ngã, và từ đó, họ sẽ trải qua các hiện tượng mà họ nhận thức được bằng cảm giác khổ đau, vui sướng hay trung tính. Đây là sự thật, không cần phải tìm hiểu lý do. Động vật cũng thế. Vì bản tánh tự nhiên, tất cả chúng ta đều muốn được hạnh phúc, không muốn đau đớn và bất hạnh. Ta cũng không cần phải chứng minh điều này. Trên cơ bản này, ta có thể nói rằng mọi người đều có quyền lợi để có một đời sống hạnh phúc và khắc phục khổ đau.
25/08/2012(Xem: 13332)
Đây là bài nói chuyện của Tỳ Kheo Bodhi trong chương trình Google Techtalks vào ngày 3 /11/2010. Trong phần mở đầu, Tỳ Kheo Bodhi nói rằng Ngài biết anh bạn Quản lý chương trình Techtalks là người thích hài hước, nên Ngài phải chọn một nhan đề mang tính hài hước cho bài nói chuyện này là:“ Cần Có Hai Người Để Nhảy Điệu Tango ”,( vì Ngài e ngại bài nói chuyện của Ngài sẽ tẻ nhạt đối với thính giả). Nhưng nếu nói một cách nghiêm túc, thì đề tài của buổi nói chuyện này sẽ là: “Tương Lai Nhân Loại và Tương Lai Phật Giáo ”.