Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

05. Ý Nghĩa của Sự Không Tranh Biện Trong Phật Giáo

24/12/201109:31(Xem: 1630)
05. Ý Nghĩa của Sự Không Tranh Biện Trong Phật Giáo
PHẬT GIÁO
TRONG THẾ GIỚI TÂN TIẾN NGÀY NAY
Sự canh tân của Phật giáo từ Đông sang Tây
Hoang Phong biên soạn và dịch

Ý NGHĨA CỦA SỰ KHÔNG TRANH BIỆN TRONG PHẬT GIÁO

Các kinh sách, đặc biệt là kinh sách Nam tông, ghi chép rằng vào thời kỳ của Đức Phật không phải chỉ có một trào lưu duy nhất là Phật giáo, trái lại Đức Phật đã sống trong một thời kỳ vô cùng phong phú gồm nhiều truyền thống triết học và tín ngưỡng khác. Có rất nhiều vị Thầy lớn tuổi và nổi tiếng hơn cả Phật, chẳng hạn như vị thầy Bà-la-môn Jina Mahavira mà kinh sách Phật giáo thường nói đến dưới danh hiệu là Nigantha Nathaputta.

Trong bối cảnh đặc biệt của sự phát triển cao độ các trào lưu tinh thần của nước Ấn vào thời bấy giờ, sự tranh biện giữa những nhà lãnh đạo và các người chủ trương các học thuyết cũng hết sức cởi mở, rộng rải và tự nhiên một cách lạ thường. Bối cảnh đó đã được ghi chép trong vô số kinh điển Phật giáo và ngoài Phật giáo. Vậy vị trí của Phật giáo trong bối cảnh ấy như thế nào, Đức Phật đã dạy các đệ tử của Ngài phải giữ thái độ như thế nào trước những tranh biện phức tạp và thuần lý mang ít nhiều màu sắc tín ngưỡng ấy?

Các học phái và trào lưu ngoài Phật giáo

Kinh sách (trong số này có kinh Samannaphala-sutta) thường nói đến sáu vị Thầy quan trọng hơn hết, các vị thầy ấy không nhất thiết chủ trương một tôn giáo theo định nghĩa thông thường, nhưng đại diện cho nhiều trào lưu triết học dựa vào sự biện luận duy lý hoặc dựa vào vài sắc thái tín ngưỡng. Những trào lưu ấy được phân loại như sau :

- Trào lưu thứ nhấtdo vị Thầy Purana Kassapa chủ trương. Trào lưu này tin rằng không có sự thưởng phạt nào cả đối với các hành vi thực thi, tức không có một hậu quả nào trong các hành vi duy ý. Vì vậy trào lưu hay chủ thuyết này chủ trương tính cách ngẫu nhiên của vạn vật, có nghĩa là mọi sự vật và biến cố xảy ra một cách tình cờ, ngẫu nhiên và ngẫu biến, không lệ thuộc vào điều kiện. Kinh sách Phật giáo gọi chủ thuyết này là addhiccasamuppanna-vada, (theo Trường Bộ Kinh – Digha-Nikaya).

- Trào lưu thứ haido vị Thầy Makkhali Gosala, sống cùng thời đại với Đức Phật, chủ trương thuyết định mệnh, tiền định hay số mệnh, và cho rằng những hành vi đạo hạnh hay độc ác không có ảnh hưởng gì đến việc giải thoát con người. Sự cố gắng và hành vi của con người chẳng có hiệu quả gì trong chuỗi dài hiện hữu của họ. Họ chỉ cần chịu đựng hết cái chuỗi dài đó cho đến khi nào nó chấm dứt một cách tự động, khi ấy con người sẽ đạt được sự giải thoát cuối cùng. Chuỗi dài hiện hữu của mỗi cá thể đã được quyết định từ trước, không thay đổi được. Tuy nhiên trào lưu này lại chủ trương có sự biến cải và thăng tiến tuần tự cho mỗi lần tái sinh, từ dạng thể thấp đến dạng thể cao hơn, cho đến khi nào chấm dứt, (theoTrường Bộ KinhDigha-nikaya).

- Trào lưu thứ bado vị Thầy Ajita Kesakambali chủ xướng, dựa vào thuyết tự hủy, tức là mọi thứ, mọi vật thể tự tiêu tan hay tan biến hết chẳng còn gì cả (Tây phương gọi là annihilism). Kinh sách Phật giáo gọi chủ thuyết này là ucceda-vada. Chủ thuyết hư không hay hư vô trên đây được phổ biến rộng rãi trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế và chia ra nhiều chi phái, nhưng tất cả đều cho rằng sự tu tập chẳng có ích lợi gì, sự hiểu biết và đạo hạnh chẳng giữ một tầm quan trọng nào nơi mỗi cá thể. Theo các chủ thuyết này, con người gồm tứ đại : đất, nước, lửa và khí. Khi chết, mỗi thành phần vừa kể sẽ quay về bản thể chung, tương ứng với chúng trong thiên nhiên : đất với đất, nước với nước, v.v., các chức năng giác cảm thì hội nhập với không gian. Mỗi cá thể sẽ bị xoá bỏ bằng cái chết, và sau cái chết sẽ chẳng còn gì cả.

- Trào lưu thứ tưchủ trương thuyết bất diệt gọi là sassata-vata, do nhiều vị thầy khác nhau chủ xướng, trong số đó vị nổi tiếng nhất là Pakhuda Kaccayana. Theo chủ thuyết này con người được cấu hợp bởi bảy thành phần : đất, nước, lửa, khí, thích thú, đau đớn và sức sống (jiva). Bảy thành phần riêng rẽ đó không sinh cũng không diệt, không khởi thủy cũng không chấm dứt, chúng trường tồn một cách độc lập, không tác động lẫn nhau, không thay đổi, không biến hoá cũng không thăng tiến, cứ giữ nguyên như thế đến vô tận, (theo Trường Bộ Kinh – Digha-nikaya).

- Trào lưu thứ nămthật ra bao gồm nhiều trường phái khác nhau và chủ trương một hệ thống giáo lý theo đó thế giới này là sự sáng tạo của một đấng tối thượng, kinh sách Phật giáo gọi đấng tối thượng này là issara-nimmana-vada. Các trường phái khác nhau đưa ra các định nghĩa ít nhiều khác nhau về Đấng Sáng tạo này và gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau : Maha-Brama, vị Chiến thắng, vị Chủ thế giới, Tác giả, vị Sáng tạo, vị Tác tạo định mệnh, vị Tự quản, người Cha của những kẻ đã được sinh ra và sẽ được sinh ra…Các vị thầy chủ trương các hệ phái này là các vị : Acchariyas, Tittiriyas, Chandokas, Chandavas, Brahmacariyas…, đồng thời tên của các vị thầy cũng được đem ra dùng để gọi các hệ phái do các vị ấy chủ xướng.

- Trào lưu thứ sáulà một trào lưu khá lạ lùng, cũng được truyền bá trong thời kỳ của Đức Phật. Vị Thầy được biết đến nhiều nhất trong trào lưu này là Sanjaya Bellatthiputta, ông không bao giờ trả lời những câu hỏi được nêu lên mà luôn luôn tránh né, dùng luận cứ bất khả tri(không thể hiểu được sự tuyệt đối) để tránh đối đầu, chẳng những với các câu hỏi về các chủ đề liên quan đến đạo đức và siêu hình, mà còn tránh né cả các câu hỏi mang tính cách đại cương. Theo Sanja Bellatthiputta, những câu hỏi và những câu trả lời rốt ráo và đích thực đều liên quan đến những gì không thể xác định được, không thể diễn tả được và không thể giải thích được. Người ta thường ví ông như một cái kim luồn qua hai mép vải.

Thái độ của Phật

Không biết các kinh sách Nam tông có ghi chép và diễn tả đầy đủ tất cả các chủ thuyết thời bấy giờ hay không, nhưng đều cho biết một cách minh bạch rằng Đức Phật không chủ trương ngẫu biến, định mệnh, hư vô, bất diệt, sáng tạo, bất khả tri. Điều đáng chú ý hơn hết là ngay trong tập đầu tiên của Kinh Tạng (tức kinh Brahmajala-sutta) đã nêu lên sự kiện Phật bác bỏ 62 chủ thuyết của các vị thầy đương thời. Trong số 62 chủ thuyết ấy có 23 chủ thuyết chủ trương cái ngã(atman), còn gọi là cái tôi, cái ta, và trong số các chủ thuyết còn lại có nhiều chủ thuyết chủ trương sự bất diệthay trường tồn.

Phật nói rằng : « Bất cứ một quan điểm nào trong số 62 quan điểm[đã đề cập] đều có thể hiển hiện trong đầu của bất cứ ai mang ý niệm sai lầm về cá tính con người(sakkaya-ditthi), nhưng khi nào khái niệm sai lầm này không có, sẽ không còn có sự bám víu vào các quan điểm ấy nữa» (kinh Sammyutta-nikaya). Câu nói trên đây của Phật có nghĩa là gì? Có nghĩa là Phật muốn ám chỉ đến cáivô minhtrong mỗi cá thể con người, cái vô minhvề sự hiện hữu của cái ta, cái tôi, cái ngã. Con người diễn đạt những thứ ấy qua cái vô minhcủa mình và gán cho cá thể con người đủ mọi loại đặc tính như trường tồn, hư vô, an bài, định mệnh, hậu quả hay tác phẩm của sự sáng tạo thiêng liêng v.v… Những diễn đạt ấy sẽ làm phát sinh những quan điểm khác nhau. Tệ hơn nữa là mỗi cá thể chẳng những tự diễn đạt những quan điểm ấy cho riêng mình, mà còn tìm cách áp đặt cho kẻ khác. Sự áp đặt cho kẻ khác những diễn đạt về cái tôi, cái ta, cái ngãtheo quan điểm của mình chính là nguồn gốc của mọi sự tranh biện.

Phật cảnh giác chúng ta phải tránh sự tranh biện ấy vì ba lý do như sau :

- lý do thứ nhất: các quan điểm khác nhau, sự cả tin hay đức tin của mỗi người và sự biện luận thuần lý sẽ không có ích lợi gì cả, không thiết thực và không giúp ta nhìn thẳng vào vấn đề, do đó Phật dạy không nên quan tâm đến những thứ như thế .

Trong Trung Bộ Kinh (kinh Culamalunkyaputta-sutta), có kể chuyện về một đệ tử của Phật tên mà Malunkyaputta như sau. Malunkyaputta đang ngồi thiền định một mình bổng nhiên những thắc mắc sau đây vụt hiện ra trong đầu : « Vũ trụ trường tồn vô hạn hay không trường tồn vô hạn ? Vũ trụ có giới hạn hay không có giới hạn ? Nguyên lý của sự sống thuộc chung một thứ với thân xác hay là nguyên lý sự sống là một thứ riêng biệt và thân xác là một thứ gì khác ? v.v. ».

Malunkyaputta liền đến tìm Đức Phật để hỏi. Đức Phật giảng cho Malunkyaputta như sau : « Này Malunkyaputta, mặc dù có một quan điểm theo đó vũ trụ vô tận và có một quan điểm [khác]theo đó vũ trụ không vô tận, nhưng trước nhất phải hiểu rằng có sinh, có già, có chết, có khổ, có than khóc, có đớn đau, xót xa và tuyệt vọng.[Đối với] Ta, Ta [chỉ] giảng[cho con]về sự chấm dứt những thứ ấy trong thế giới này, trong chính sự sống này. Vì thế, này Malunkuyaputta, hãy giữ lấy trong tâm những gì Ta giảng, đúng như Ta đã giảng, và những gì Ta không giảng, đúng như Ta không giảng…». Phật trả lời cho Malunkyaputta từng chủ đề một, nhưng chỉ trích ra đây một câu tiêu biểu liên quan đến vũ trụ. Vì tính cách lập đi lập lại triền miên của kinh sách, nếu trích ra hết sẽ làm cho bài viết quá dài.

-lý do thứ hai: Phật giúp ta tránh khỏi những biện luận duy lý hay thuần lý đưa đến những quan điểm đối nghịch làm phát sinh ra những tranh luận bất tận. Các chủ thuyết siêu hình thông thường đưa đến những giáo điều gò bó, cần phải có sự cả tin để chấp nhận, hoặc đưa đến việc tìm tòi những luận cứ đủ loại có tính cách chống đỡ hay bài bác. Các luận cứ ấy không phải là những kinh nghiệm thực tiễn do mỗi người thực hiện được, vì thế không thể giúp cho ta đánh giá luận cứ này đúng hơn một luận cứ khác.

Khoa học tiến triển dựa trên giả thuyết, khi một giả thuyết còn đứng vững chưa bị đã phá thì những hiểu biết do giả thuyết ấy mang đến vẫn còn có giá trị, khi một giả thuyết bị xụp đổ thì những hiểu biết dựa trên giả thuyết ấy cũng mất giá trị theo. Trên phương diện biện luận thuần lý, một quan điểm do một cá nhân đưa ra cũng chỉ là một quan điểm như những quan điểm khác. Nếu ta bám víu vào một quan điểm nào đó sẽ đưa đến sự tranh luận hay biện luận bất tận. Nếu như sự bám víu ấy trở nên quá mạnh sẽ có thể đưa đến sự phân biệt và kỳ thị, cố chấp và thiếu khoan dung, hậu quả đưa đến là sự xung đột và chiến tranh tôn giáo như đã từng xảy ra trong lịch sử Phương Tây.

-lý do thứ ba: Phật dạy ta giữ một thái độ «trung hoà» hay đúng hơn «đứng ra ngoài mọi quan điểm», không để cho bất cứ một quan điểm nào gây trở ngại cho sự thăng tiến nội tâm của ta. Không phải chính các quan điểm«đứng ra» gây trở ngại, mà chính sự bám víucủa ta vào quan điểm này hay quan điểm khác đã trực tiếp cản trở ta trên đường thăng tiến tâm linh. Sự kiện bám víusẽ tạo ra vô minhlàm cho tâm thức u mê.

Bám víuvào bất cứ một quan điểm nào (dhamma tanha) là một điều Phật cấm đoán. Vượt thoát mọi quan điểm là sự Giải thoát. Một trong những thể dạng của kỹ thuật ngồi thiền là không tìm cách «giải thích» mọi sự vật và biến cố, đồng thời cũng không diễn đạt những nhận biết của giác cảm trên thân xác và những tư duy hiển hiện trong tâm thức, và đó cũng là cách ứng dụng vào thực tế lời giảng của Phật trên đây : đứng ra ngoài mọi diễn đạt và mọi quan điểm. Giác cảm là giác cảm, không có sự khác biệt giữa một giác cảm thích thú và một giác cảm khổ nhọc hay bấn loạn. Không có sự khác biệt giữa một quan điểm gọi là «đúng» và một quan điểm gọi là «sai», một quan điểm là một quan điểm.

Sau đây là một thí dụ cụ thể hơn. Qua sự lý luận thông thường, ta cho rằng quan điểm chủ trương «có sự hiện hữu của cái ngã», tức tôi có cái ngãcủa tôi, là một quan điểm sai (miccha ditthi), quan điểm trái ngược lại tức là vô ngã, có nghĩa là không có cáitôi(anatta vada) sẽ phải là một quan điểm «đúng». Nhưng thật ra nên hiểu như thế này: tin rằng không có sự hiện hữu của cái ngã, hay tin là đúng quan điểm không có cái ngã đều «không đúng», giản dị chỉ cần tránh đừng tin là có cái ngã. Sự tế nhị là ở chỗ phái tránh sự cả tin là có cái ngã. Tin hay không tin là hai thái cực của nhị nguyên, hai thái cực ấy sẽ được diễn đạt thành hai quan điểm đối nghịch, tránh là đứng ra ngoài hay lên trên cả hai quan điểm. Đấy là ý nghĩa và mục đích của việc tránh sự tranh biệntrong Phật giáo.

Những kinh nghiệm thực hiện trong Phật giáo

Phật giáo tránh những quan điểm dựa vào sự biện luận thuần lý và những diễn đạt không phát xuất từ kinh nghiệm bản thân, nhất là những biện luận «siêu hình», nhưng không phải vì thế mà Phật giáo không đạt được những hiểu biết siêu việt. Kinh nghiệm do bản thân đối với Phật giáo không phải chỉ dựa trên sự cảm nhận của giác cảm và tâm thức mà còn dựa trên sự hiểu biết «siêu giác cảm», «siêu tâm thức», một sự hiểu biết trực giác và tối thượng, nhờ vào sự tu tập lâu dài, chẳng hạn như sự nhận biết về các kiếp trước, về sự tái sinh sau khi chết, sự nhận biết bản thể đích thực của thế giới này, về bản chất của mọi vật thể và biến cố. Những kinh nghiệm trực giác và tối thượng đó chính là mục đích của việc tu tập Phật giáo.

Trong kinh Sangarava-sutta, thuộc Trung Bộ Kinh, Đức Phật phân biệt ba loại thầy chủ xướng ba xu hướng tâm linh khác nhau, liệt kê như sau : xu hướng thứ nhất có tính cách thần khải (tiết lộ bằng thần cảm) (anussavika), sự hiểu biết thần khảidựa trên kinh sách thiêng liêng gọi là thánh kinh, chẳng hạn như trường hợp các vị thầy Bà-la-môn, nhất là thuộc trường phái Phệ đà (Veda). Các vị thầy thuộc xu hướng thứ hai dựa vào những khái niệm siêu hình căn cứ trên sự biện luận duy lý (takki vimansi) và các vị thầy này tự cho rằng họ có thể đạt được những hiểu biết căn cứ trên sự biện luận và những luận cứ thuần lý. Xu hướng thứ ba gồm các vị thầy đạt được sự hiểu biết bằng kinh nghiệm trực tiếp xuyên qua sự luyện tập tâm thức. Đức Phật là một vị Thầy thuộc vào nhóm thứ ba.

Đối với Phật giáo, không có chỗ nào dành cho các quan điểm thuần lý cũng như những quan điểm có tính cách thần khải. Trong rất nhiều kinh sách, chẳng hạn các kinh Kalama-sutta(trong Tăng Nhất Bộ Kinh), Canki-sutta (trong Trung Bộ Kinh), Phật luôn luôn cảnh giác các đệ tử của Ngài phải xem xét, kiểm tra thật cẩn thận bằng sự hiểu biết kinh nghiệm bất cứ một điều gì trước khi chấp nhận hay phủ nhận. Sựhiểu biết bằng kinh nghiệm trực tiếphay trí tuệ do sự tu tậpđem đếnkhác với sự kiện có một quan điểmhay có một đức tin, hai thể dạng hoàn toàn khác nhau.

Kết luận

Sự lý luận, phân giải, tranh biện rất cần thiết cho khoa học, giúp khoa học thiết lập những giả thuyết, trên những giả thuyết ấy sẽ xây dựng sự hiểu biết. Những giả thuyết đánh đổ lẫn nhau để thúc đẩy sự tiến bộ và hiểu biết. Nhưng theo Phật giáo, những hiểu biết ấy vẫn là những hiểu biết chủ quan, công thức và quy ước, mang tính cách nhị nguyên, không thể dùng để diễn tả sự thực thực tuyệt đối của hiện thực.

Tránh sự biện luận trong Phật giáo là tránh những đối nghịch và bế tắc do sư hiểu biết nhị nguyên, quy ước và sự biện luận thuần lý gây ra. Tránh sự đối nghịch không phải là một thái độ sợ sự hiểu biết mà là phương cách vượt lên trênsự hiểu biết để đạt được sự quán nhận trực tiếp, rốt ráo và tối thượng về bản chất đích thực của hiện thực. Sự hiểu biết rốt ráo và tối thượng ấy gọi là sự quán nhận siêu nhiên (panna). Đối với Phật giáo Nam tông, sự hiểu biết ấy tượng trưng cho cấp bậc thứ ba trong việc tu tập. Cấp bậc thứ nhất là tu giới, cấp bậc thứ hai là tu định(samadhi), cấp bậc thứ ba làtu quán (vipassana), tức sự quán thấyhay minh sátbằng trí tuệ. Theo Nam tông trí tuệ ấy giúp người tu tập nhận biết chính xác và trực tiếp tứ diệu đếvô ngã của con người, kết quả đưa đến là thể dạng giải thoát của bậc A-la-hán. Bắc tông gọi cấp bậc thứ ba trên đây là tu tuệvà định nghĩa khác hơn một chút. Bắc tông gọi trí tuệ đạt được trong cấp bậc tu tập thứ ba là Trí tuệ siêu nhiêncòn gọi là Trí tuệ Ba-la-mật(prajnaparamita), tức là sự quán nhận trực tiếp hay sự thực hiện trực tiếpnh khôngcủa cá thể con người và của tất cả mọi hiện tượng từ tâm thức đến ngoại cảnh, sự quán nhận hay thực hiện Tánh không ấy sẽ đưa đến sự Giải thoát cuối cùng.

Ghi chú: bài viết chủ yếu dựa theo kinh sách Nam tông. Các lời trích dẫn được trích từ các kinh sách đã được dịch thẳng từ tiếng Pa-li sang ngôn ngữ Tây phương, do đó có thể có vài sự khác biệt nhỏ so với kinh sách tiếng Việt dịch từ kinh sách gốc Hán. Các chữ chú thích trong hai dấu ngoặc đơn là tiếng Pa-li, nhưng vì lý do kỹ thuật nên không đánh dấu được.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/201317:33(Xem: 2295)
Giáo dục Phật giáo lấy tư tưởng nhất thừa làm cứu cánh. Mọi sự phân chia thứ bậc chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh giải thoát Niết bàn. Với tư tưởng nhất thừa, giải thoát không có nghĩa là trốn chạy và Niết bàn không phải là một cõi hư ảo xa xôi.
09/04/201317:18(Xem: 2270)
Bất cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý Đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt Đạo Phật trong kinh điển –mà tôi gọi là Đạo Phật lý thuyết –với Đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế.
18/07/201008:12(Xem: 6222)
Bất cứ người nào có nghiên cứu Phật học, có kiến thức về giáo lý đạo Phật như được ghi trong ba tạng kinh điển, đều thừa nhận đang có một khoảng cách lớn, phân biệt đạo Phật trong kinh điển (mà tôi tạm gọi là đạo Phật lý thuyết) với đạo Phật ở ngoài đời, trong cuộc sống thực tế. Đạo Phật lý thuyết là đạo Phật lý tưởng. Khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế là chuyện tất nhiên và tất yếu. Bởi lẽ nếu không có khoảng cách đó giữa đạo Phật lý tưởng và đạo Phật thực tế thì mọi người chúng ta đều thành Phật cả rồi, và cõi đất này là cõi Phật rồi.
24/12/201004:07(Xem: 4267)
Đối với Phật giáo, sự sinh tồn của con người và môi trường là bình đẳng, không tách rời; Giáo dục Phật giáo đưa con người gần với môi trường tự nhiên, cùng sinh tồn, coi yếu tố môi trường là một, gần gũi thân thiện chứ không phải là đối tượng để con người lợi dụng.
28/12/201200:40(Xem: 3879)
Trong bầu không khí trang nghiêm, hòa hợp, thắp sáng niềm tin vào nền giáo dục nhân bản Phật giáo của ngày Hội thảo Giáo dục Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VI (2007 -2012) của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương với chuyên đề “Giáo dục Phật giáo Việt Nam định hướng và phát triển”, tôi xin phát biểu một số ý kiến chung quanh vấn đề Giáo dục Phật giáo như sau:
03/04/201113:03(Xem: 3292)
Chắc chắn Đức Phật đã thiết lập nhiều quy luật đạo đức và thiền quán. Những điều này hỗ trợ cho ân cần tử tế, từ bi, bao dung, yêu thương, tế nhị cũng như tuệ trí, tập trung, và can đảm.
22/09/201010:10(Xem: 2513)
Giáo Pháp Tứ Y trong đạo Phật là giáo lý nói về 4 phương phápthực tập sự nương tựa (y cứ) dẫn đến giác ngộ, giải thoát. Bốn phươngpháp thực tập sự nương tựa này không phải là một hành vi gì cao siêu,hoặc phải “tu luyện” lâu xa, mà chỉ là những hành vi rất thường nhật như đói ăn, khát uống… nhưng nó cũng là một trong những thiện pháp nuôi lớn phúc đức và trí tuệ cho mỗi con người, đem đến sự an lạc thântâm, cũng từ đó cảm hoá được quần chúng ở mọi lúc, mọi nơi... Phải biết gạn đục, khơi trong. Đừng lẫn lộn giữa Pháp và người giảng Pháp, bởi “Pháp” chính là Đạo: giảng Pháp là giảng Đạo. Ta nghe Pháp để “thấy” đạo...
16/03/201706:42(Xem: 2670)
Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã). Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều,
30/12/201104:17(Xem: 1645)
Trên đời này có hai thứ cao quý nhất đó là bảy thứ: vàng, bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não còn được gọi là thất bảo và phật pháp tăng. Các thứ cao quý ấy được xuất phát từ thế gian. Các loại ngọc và vàng bạc được có trong lòng đất với thời gian cả ngàn năm, tỷ năm do môi trường của đất tạo nên. Các thứ ngọc gọi là đá quý, còn vàng bạc gọi là kim loại quý.
16/05/201517:35(Xem: 11173)
Hãy nôn ra lòng sân hận độc hại khỏi cõi lòng bạn. Sự sân hận đầu độc và bóp nghẹt tất những gì thiện mỹ nơi bạn. Tại sao bạn phải hành động chỉ vì con quái vật độc hại dấu mặt này? Hãy nôn nó ra, vứt hết đi, không chừa lại một chút gì cả. Bạn sẽ cảm thấy dễ chịu khi vứt bỏ nó đi. Rồi cõi lòng bạn tràn ngập tình bi mẫn vị tha, thẩm thấu qua từng lỗ chân lông bạn. Hãy hiển lỗ tâm từ vô nhiễm trào dâng thương yêu. Hãy để những ai đến với bạn đều nhận được vầng quang hảo tâm không thể chối từ, cũng như khi rời xa, họ cảm thấy được cảm thông và can đảm hơn để đối mặt với cuộc đời đầy gian truân và nghiệt ngã này.