Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sơ Quát về “Bình Thường Tâm Thị Đạo” qua Duy Thức Học

04/01/202020:10(Xem: 1182)
Sơ Quát về “Bình Thường Tâm Thị Đạo” qua Duy Thức Học

duc the ton-10

Sơ Quát về “Bình Thường Tâm Thị Đạo”
 qua  Duy Thức Học

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có thiền truyện thuật lại cuộc hỏi đáp giữa Triệu Châu và Nam Tuyền:

" Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: 'Thế nào là đạo?'

Nam Tuyền đáp : ‘Tâm bình thường là đạo’ (Bình Thường Tâm thị Đạo).

_’Lại có thể nhằm tiến đến chăng?’

_ ‘Nghĩ nhằm tiến đến là trái’.

_ ‘Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?’

_ ‘Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy’.

Ngay nơi lời này Triệu Châu ngộ lý, bèn đi thọ giới...."

Vậy, thế nào là “Tâm Bình Thường”?

Trong đạo Phật, chữ 'Tâm' có ý nghĩa rất rộng, rất phong phú và phức tạp vì tâm được biểu hiện, bao hàm trên tất cả sự sống của con người và sinh vật. Sự sống này nôm na là những sinh hoạt hít vô-thở ra, nheo mắt-nhướng mày, đi- đứng- nằm-ngồi (nơi thân), nói năng, khóc-cười, ca hát.. (nơi miệng), thấy- nghe- hay- biết (kiến- văn- giác- tri), cảm thọ, tưởng tượng, suy nghiệm ..(nơi tâm). Nếu còn có các sinh hoạt trên, xem như còn sống; nếu không còn, xem như đã chết. Từ những sinh hoạt này, lại khiến nảy sinh thêm những tình cảm, những ham muốn, những tri thức, những ràng buộc kết nối tâm thức con người vào đời sống. Những tình cảm này thường được gọi là thất tình (7 tình cảm: mừng, giận, thương , ghét, buồn, vui, muốn); các ham muốn thường được gọi là lục dục (6 tham muốn về 6 cảnh trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Thất tình và lục dục lại kết nối thêm với những tri thức, kiến thức, nhận định, đánh giá, so sánh,..về sự vật trần cảnh. Các tâm thế gian thường ngày nêu trên không phải là chữ 'Tâm' được tổ Nam Tuyền sử dụng trong thiền truyện khi Ngài có thêm hai chữ 'Bình Thường' để minh định chuyên biệt về cái tâm Ngài muốn nói.

Tuy vậy lại có rất nhiều lầm nhận “Tâm Bình Thường” này với tâm thế gian thường ngày, tâm không có chi đặc biệt, với đầy đủ thất tình lục dục : phàm phu khi đối duyên xúc cảnh, gặp cảnh thuận ý, bằng lòng thì vui mừng, thích thú, thương yêu, trân quí, giử gìn..., gặp cảnh trái ý, không bằng lòng thì buồn khổ, oán ghét, sân hận, hất hủi, vứt bỏ...Các tâm thức thường ngày này dù có thể xảy ra thường xuyên nơi đời sống chúng ta nhưng chúng đều không phải là “Bình Thường”, nói đơn giản là chúng không "Bình", cũng không "Thường". Lý do là chúng luôn xao đông, chao đảo, khiến tâm thúc ta luôn xáo động, không được bình an, thanh tĩnh ('Bình" là Bình An, Bình Hòa, Thanh Bình, An Tĩnh..); v à mặt khác, do chúng luôn biến động, thay đổi thường xuyên, hết vui lại buồn, hết cười lại khóc… nên chúng cũng không “Thường” (“Thường” là thường hằng, không biến đổi, không có sanh trụ dị diệt..).

Theo Duy Thức Học, tâm thức thường ngày của con người chỉ quanh quẩn trong 51 món tâm sở xấu tốt lẫn lộn. Tâm sở chính là tướng trạng biểu hiện của tâm thức khi tâm thức bị động bởi cảnh trần bên ngoài. 51 món tâm sở này bao gồm:

26 tâm sở Phiền Não (xấu ác) gồm: 6 Căn Bản Phiền Não (tham, sân, si, mạn, nghi, và ác kiến) và 20 Tùy Phiền Não. 20 Tùy Phiền Não lại chia ra: 8 Đại Tùy (trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri), 2 Trung Tùy (vô tàm, vô quí), và 10 Tiểu Tùy (phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiễm, hại, kiêu).

11 tâm sở Thiện (tốt lành) gồm: tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần (tinh tấn), khinh an, bất phóng dật, hành xả (bố thí), bất hại.

Ngoài 37 tâm sở phân định rõ về thiện-ác nêu trên, còn có thêm 14 tâm sở khác bao gồm: 4 tâm sở Bất Định (hối, miên, tầm, tư) và 5 tâm sở Biệt Cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, tuệ), 9 tâm sở này chưa có phân biệt, xác định rõ về thiện hay ác; và sau cùng là 5 tâm sở Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư) có tính cách phổ biến, nguyên sơ ,rất bao quát nên phi thiện phi ác.

Tất cả hay chỉ một phần 51 món tâm sở này được sinh xuất và xoay vần lẫn nhau một cách liên tục không dừng nghỉ tạo nên các tướng trạng biểu hiện nơi tâm thức thường ngày của chúng ta. Chuyên sâu và rõ ràng hơn, Duy Thức Học minh định các tâm sở thường ngày này được sinh xuất không chỉ từ một nguồn tâm thức đơn thuần mà có đến 3 nguồn được gọi là 3 Thức Năng Biến hoặc gọi là Bát Thức Tâm Vương . Liên hệ giữa 3 Thức Năng Biến và 51 món Tâm Sở thường được ví như nước và sóng, đó là mối liên hệ có tính cách bất tức - bất ly: nước không là sóng, sóng không là nước (bất tức); dù vậy, nước lại không rời sóng, sóng lại không rời nước (bất ly). Trớ trêu thay, tình chấp thường ngày của con người lại chỉ biết và để ý đến sóng (hiện tượng của nước)) mà nhiều khi ít biết hoặc không biết, không nhớ gì về nước (bản thể của sóng). Ví như khi uống nước chanh đường, ta thường chỉ để ý quan tâm đến r ồi vui-khổ theo vị chua của chanh, vị ngọt của đường mà quên mất tánh chất không mùi không vị của nước trong sạch dù tánh chất của nước trong sạch này vẫn thể hiện đầy đủ, không hề bị thiếu thốn hao tổn trong bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào…

Sự phân biệt 3 Thức Năng Biến (Bát Thức Tâm Vương) được dựa trên tánh thể, tướng trạng, và dụng năng (thể, tướng, dụng) của mỗi thức, đại cương như sau:

1. Thức Năng Biến Thứ Nhất thường được gọi là Thức A Lại Da (Đệ Bát Thức)

Thức này có thể tánh vô phú (không nương trụ), vô ký (không phân biệt thiện ác). Nó vời vợi khôn cùng, không bờ mé, như vực sâu (vô phú), và có dụng năng là để dung chứa , duy trì tất cả các loại chủng tử-tập khí thiện ác (v ô ký) từ vô lượng kiếp. Do đây, có thể gọi Thức Năng Biến Thứ Nhất là Thức Năng Biến Chứa Nhóm. Thức này luôn chuyển động do dụng năng tuôn chuyển dữ dội của các chủng tử - tập khí, gọi là "Hằng chuyển như bộc lưu" (luôn chuyển động như dòng thác) . Do đó, nó chỉ có tánh "Thường" mà không có tánh "Bình". Vậy, Thức Năng Biến Thứ Nhất ( A Lại Da thức) không là "Tâm Bình Thường".

Kệ về A Lại Da thức trong Duy Thức Tam Thập Tụng và tạm dịch:

"Thị vô phú vô ký "Là vô phú vô ký

Xúc đẳng diệc như thị Các Biến Hành cũng thế

Hằng chuyển như bộc lưu Hằng chuyển như dòng thác

A la hán vị xả" Bậc A La Hán mới xả"

Thức A Lại Da chỉ có 5 tâm sở Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư) . Nó rất sâu xa vi tế nên chỉ có thể hay biết được về nó trong những cảnh giới thiền định rất cao mà người phàm phu không thể nhận biết và thông hiểu đến được.

2. Thức Năng Biến Thứ Nhì thường được gọi là Thức Mạt Na (Đệ Thất Thức):

Thức này có thể tánh hữu phú (có nơi nương trụ) vô ký (không có phân biệt thiện ác). Nó luôn hằng thẩm tư lương, suy xét , lo nghĩ để duy trì chấp trước về bản ngã (cái tôi). Do đây, có thể gọi Thức Năng Biến Thứ Nhì là Thức Năng Biến Chấp Ngã. Bản ngã được phát sinh từ thức Mạt Na khi nó nương gá vào thức A Lại Da (‘hữu phú’) rồi chấp lấy kiến phần của thức A Lại Da ("Y bỉ chuyển duyên bỉ") làm bản ngã mà không phân biệt thiện ác (vô ký).

Kệ về Mạt Na thức trong Duy Thức Tam Thập Tụng và tạm dịch:

"Thứ đệ nhị năng biến "Thức năng biến thứ nhì

Thị thức danh Mạt Na Thức này tên Mạt Na

Y bỉ chuyển duyên bỉ Nương kia chuyển duyên kia

Tư lương vi tánh tướng" Tư lương làm tánh tướng”

Do Mạt Na Thức luôn nương gá theo A Lại Da thức, nên nó cũng có tánh "Thường" như A Lại Da thức. Nhưng cũng như A Lại Da, Mạt Na Thức cũng không có tánh "Bình". Đặc biệt, ở Mạt Na Thức do có thêm tánh chấp ngã nên sự xao động bất an lại càng nhiều hơn, mãnh liệt hơn so với ở A Lại Da thức. Điều này được thể hiện rõ là so với A Lại Da thức, Mạt Na Thức có thêm 13 tâm sở, tổng cọng nó có 18 tâm sở bao gồm: 5 Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư ; giống như ở A Lại Da), thêm 1 Biệt Cảnh (Tuệ), thêm 4 Căn Bản Phiền Não (Tham, Si, Mạn, Ác Kiến) và thêm đủ 8 Đại Tùy Phiền Não (trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri),.

Thức Mạt Na còn được gọi tên là Ý, hay Ý Căn vì nó là căn nguồn của Ý Thức.

3. Thức Năng Biến Thứ Ba thường được gọi là Tiền Lục Thức (6 thức trước):

Tiền Lục Thức có tánh năng liễu cảnh (tiếp nhận và phân biệt cảnh trần), phân biệt ra có 6 thức sai biệt ở 6 căn (mắt, tai, mũI, lưỡi, thân, ý ) khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), với phân biệt rõ về 3 t ánh (thiện, ác, và vô ký). Do đây, có thể gọi Thức Năng Biến Thứ Ba là Thức Năng Biến Liễu Cảnh.

Bài kệ về Liễu Cảnh Đệ Tam Năng Biến thức trong Duy Thức Tam Thập Tụng và tạm dịch:

"Thứ đệ tam năng biến "Thức năng biến thứ ba

Sai biệt hữu lục chủng Có sáu loại sai biệt

Liễu cảnh vi tánh tướng Rõ cảnh làm tánh tướng

Thiện, bất thiện câu phi" Thiện, Ác cùng Vô Ký”

Tiền Lục Thức thường được phân định ra 2 thành phần chính:

3. 1 Tiền Ngũ Thức (5 Thức Trước) là sự nhận biết phân biệt ở 5 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) bao gồm: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỹ Thức, Thiệt Thức, và Thân Thức. Mỗi thức này chỉ nhận biết các đối tượng tương ưng với nó mà thôi, như mắt chỉ tương ưng với hình sắc, tai chỉ tương ưng với âm thanh…rồi nhờ vào Đệ Lục Ý Thức mà có ra sự phân biệt chi tiết, chính xác hơn.

Tiền Ngũ Thức có 34 tâm sở bao gồm: 5 Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư), 5 Biệt Cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, tuệ), 11 Thiện (tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại), 3 Căn Bản Phiền Não (Tham, Sân, Si), 8 Đại Tùy Phiền Não (trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri), và 2 Trung Tùy Phiền Não (vô tàm, vô quí).

5 thức giác quan chỉ được phát sinh khi 5 căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân) tiếp xúc qua lại với 5 cảnh trần (sắc, thanh, hương, vị , xúc) (như là khi mắt tiếp xúc với hình sắc, khi tai tiếp xúc với âm thanh..). Do vậy, chỉ khi có căn trần hòa hợp mới có , còn khi căn trần không hòa hợp thì không có nên Tiền Ngũ Thức không có tánh "Thường". Ngoài ra, nó cũng không có tánh "Bình" vì do nó có 34 tâm sở nêu trên.

Bài kệ về Tiền Ngũ Thức trong Duy Thức Tam Thập Tụng và tạm dịch:

"Y chỉ căn bản thức "Nương nơi thức căn bản

Ngũ thức tùy duyên hiện Năm thức hiện theo duyên

Hoặc câu hoặc bất câu Hoặc cùng hoặc chẳng cùng

Như đào ba y thủy " Như sóng nương theo nước"

3.2 Ý Thức (Đệ Lục Thức) có tánh và tướng là tư duy, suy nghĩ phân biệt cảnh trần một cách sắc bén, thâm tế, chính xác. Ý Thức có đầy đủ tất cả 51 món tâm sở của Duy Thức Học. Trong Bát Thức Tâm Vương, chỉ có Ý Thức là có đủ 51 tâm sở, trong đó đặc biệt hơn cả là chỉ có Ý Thức có 10 Tiểu Tùy Phiền Não (phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiễm, hại, kiêu). Gọi là "Tiểu Tùy" để chỉ những phiền não với cảnh trần được xác định rõ ràng, cụ thể với giới hạn, khuôn khổ nhất định (như một người, một sự vật, một cảnh,..nào đó) Điều này phân biệt giữa “Tiểu Tùy” và "Đại Tùy" (“Đại Tùy” là những phiền não ở cảnh giới mông muội, không có bờ mé, không xác định rõ ràng đối tượng cụ thể). Vì thế Tiểu Tùy Phiền Não gây tạo nghiệp ác rất nhanh chóng, nhạy bén và dữ dội. Mặt khác, do có đầy đủ 11 món tâm sở thiện , ý thức cũng đóng vai trò then chốt, chủ yếu trong việc gây dựng thiện nghiệp, phước đức, tu tập... Do đó, vai trò của Ý Thức thường được xem vừa là đệ nhất công thần, vừa là tội đồ thủ lãnh (công vi thủ, tội vi khôi ) trong tất cả chu trình nhân quả nghiệp báo thiện ác luân hồi.

Bài kệ về Đệ Lục Ý Thức trong Duy Thức Tam Thập Tụng và tạm dịch:

" Ý thức thường hiện khởi "Ý Thức thường khởi hiện

Trừ sanh vô tưởng thiên Trừ sanh nơi trời Vô Tưởng

Cập vô tâm nhị định Cùng hai định vô tâm

Thùy miên dữ muộn tuyệt" Ngủ say với chết giấc"

Theo bài kệ trên, Ý Thức không có tánh “Thường” vì nó không có hiện hữu trong 5 trường hợp: 1. Ở cõi trời Vô Tưởng, 2. và 3. Hai Định Vô Tâm (Vô Tưởng Định, và Diệt Tận Định), 4. Ngủ say không mộng (thụy miên), và 5. Chết giấc (muộn tuyệt). Và do Ý Thức có tất cả 51 tâm sở nên nó dao động mạnh mẽ nhất , nhi ều đổi thay nhất tùy theo cảnh trần bên ngoài. Vì thế, Ý Thức hoàn toàn không có tánh “Bình”, và nếu so sánh với các thức khác, Ý Thức là bất an nhất.

Có thể xem Đệ Nhất Năng Biến (A Lại Da thức) như nước biển ở dưới đáy biển nơi nước biển có sức chao động rất yếu ớt và tương đối đơn giản, tương ưng chỉ với 5 món tâm sở Biến Hành. Đê Nhị Năng Biến (Mạt Na thức) có thể xem như nước biển ở lưng chừng giữa đáy biển và mặt nước biển nên thường có sức chao động mạnh hơn, phức tạp hơn tương ưng với 18 tâm sở, nhiều tâm sở hơn so với ở A Lại Da Thức. Đệ Tam Năng Biến được xem như các đợt sóng ở trên mặt nước biển, nơi có sức chao động dữ dội nhất và đa dạng, phong phú nhất. Trong đó Tiền Ngũ Thức, nơi tiếp nhận cảnh trần, là chân sóng (tương ưng 34 món tâm sở), Ý Thức (Đệ Lục Thức) tư duy liễu cảnh chính là thân sóng và ngọn sóng (tương ưng với toàn bộ 51 tâm sở). Sâu rõ hơn, sóng biển Đệ Tam Năng Biến này lại được hình thành từ nước biển tư lương chấp ngã Mạt Na Thức: tự thân Mạt Na Thức đã là sóng ngầm v ới 18 tâm sở, nên khi Tiền Ngũ Thức tiếp xúc với gió biển lục trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), nước biển Mạt Na Thức tức thời đáp ứng khiến sau đó thân sóng và ngọn sóng Ý Thức được sinh khở, hình thành và phát triển sau.

Y cứ theo nhận định trên, có thể diễn suy ra hai điều:

1. Sóng biển được phát sinh không chỉ do nơi gió biển mà còn có sức hợp tác của chính tự thân nước biển: chính nước biển tự nó đã "mở cửa" để đón nhận gió biển rồi cùng gió biển tạo ra sóng biển. Các cánh cửa rộng mở đón nhận gió biển này chính là các tâm sở phiền não nơi Mạt Na Thức (12 tâm sở Câu Sanh Phiền Não gồm Tứ Hoặc và Bát Đại đ ã có từ vô lượng kiếp trước). Như do nơi tâm sở "Tham" của Mạt Na Thức đã mở cửa đón nhận 6 trần cảnh và khiến phát sinh ra các tâm sở ái luyến, chấp trước dằn vặt bất an nơi Ý Thức, rồi sinh tạo chủng tử , tập khí, làm mầm mống cho nghiệp báo ở các đời sau.

2. Nếu muốn không còn có sóng biển chao động nhấp nhô luân hồi, không phải chỉ cần ngăn chận, làm dừng lại, hoặc diệt tận đi gió biển mà nơi tự thân nước biển nên bình lặng trước tiên để không còn mở cửa đón nhận gió biển nữa. Thực hiện được như thế , sẽ thấy gió biển không là tác nhân chính yếu để tạo ra sóng biển nữa. Khi đó, gió thì cứ gió mà biển lặng thì cứ lặng. Đây cũng tương ưng với tinh thần Diệu Hạnh Vô Trụ nơi kinh Kim Cang : "Không nên ưng trụ nơi sắc mà sanh tâm, không nên ưng trụ nơi thanh hương vị xúc pháp mà sanh tâm. Nên tương ưng nơi không có nương chấp mà sanh tâm" (" Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm") hoặc nơi kinh Nhất Dạ Hiền Giả: "Tuệ quán chính là đây, không động không rung chuyển, biết vậy nên tu tập".

Tuy vậy, đời sống của người phàm phu (bao gồm luôn cả những người trí thức bác học, khoa học, triết học...) đều thường chỉ tập trung nơi Liễu Cảnh Tiền Lục Thức (Thức Đệ Tam Năng Biến): kẻ dốt nát thì quanh quẩn hết vui lại khổ với Tiền Ngũ Thức, người trí thức thì có thêm Ý Thức với kiến thức phân biệt chi ly, chính xác để c ó danh vị trong xã hội nhân gian. Chỉ có các bậc chơn tu Đạo Học mới có đủ thành ý, chuyên tâm, ngưng bặt tất cả chấp trước nơi hoạt động của ý thức tư duy liễu cảnh , v à nơi hành chuyển u ẩn chấp ngã tư lương Mạt Na Thức mà phá vỡ hầm tối Vô Minh … Chỉ có các bậc A La Hán (tương đương với Bát Địa Bồ Tát) mới thực sự siêu xuất , vượt qua được Mạt Na Thức , không còn phần đoạn sinh tử luân hồi nữa.. Nhưng các ngài còn có biến dịch sinh tử vì thức A Lại Da vẫn còn chủng tử tập khí nơi thức A Lại Da. Cổ đức có bài kệ và tạm dịch:

“Đốn ngộ tuy đồng Phật (Đốn ngộ tuy đồng như Phật

Đa sanh tập khí thâm Nhiều đời tập khí sâu

Phong đình ba thượng dũng Gió dừng sóng còn dâng

Lý hiện niệm du xâm” Lý hiện niệm chưa lặng)

Chỉ khi vượt qua cả 8 thức, không còn tất cả thức tướng, thức niệm, thức t ác, thức tưởng, thức tình, thức kiến, thức văn, thức gíác thức tri …mới thực là chơn giải thoát. Khi đó bát thức được chuyển hóa thành tứ trí: Tiền Ngũ Thức trở thành Thành Sở Tác Trí, Đệ Lục Ý Thức trở thành Diệu Quan Sát Trí, Mạt Na Thức trở thành Bình Đẳng Tánh Trí, A Lại Da Thức trở thành Đại Viên Cảnh Trí. Lúc này, sẽ không còn có các suy nghĩ, hay biết của Ý Thức phân biệt, nên: “Nghĩ nhằm tiến đến là trái’, và cũng sẽ không còn các cảnh giới không suy nghĩ có nương trụ (Hữu Phú Vô Ký) của Mạt Na Thức và cũng sẽ không còn cảnh giới không suy nghĩ không nương trụ (Vô Phú Vô Ký) của A Lại Da Thức nên: “‘Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy” vậy.

Plano _ December 28, 2019

Quảng Minh LKH

Email: lekhoang50@gmail.com

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/11/201806:41(Xem: 2839)
Chúng tôi đến thăm Việt Nam một vài lần, tôi nhớ có lần chúng tôi đang ở Hà Nội. Lúc đó là Đại hội Phật Giáo, tôi cũng có buổi thuyết trình cùng với những vị khác nữa. Hôm đó đang ngồi đợi, thì có một vị Thầy trẻ người Việt đến chào, sau khi hỏi từ đâu đến, tôi nói tôi đến từ Australia. Thầy ấy nói, oh… woh… vậy Thầy có biết vị Tăng tên Ajahn Brahm không? … (cả Thiền đường cười). Tôi trả lời: Tôi là Ajahn Brahm đây. Thế là Thầy ấy tỏ ra rất hào hứng, tôi cũng hào hứng... Tôi thích Việt Nam. Tôi thích người Việt.
20/11/201820:21(Xem: 1476)
Ngày nay, nhân loại tiến vào lãnh vực khoa học đời sống, khoa học vật chất và nhiều lãnh vực khác nhau bằng kiến thức và trí thông minh vượt bậc. Nâng cuộc sống lên tầm mức tiện nghi mà những thế hệ cha ông trước đây chưa được chứng kiến và hưởng thụ.
03/06/201813:32(Xem: 6059)
CHÁNH PHÁP Số 79, tháng 06.2018 NỘI DUNG SỐ NÀY:  THƯ TÒA SOẠN, trang 2  TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3  THÁNG SÁU EM VỀ HẠ CHỨA CHAN (thơ Tiểu Lục Thần Phong), trang 7  CÚNG DƯỜNG CHÁNH PHÁP (Sa môn Thích Tín Nghĩa), trang 8
17/03/201815:48(Xem: 3187)
Con người càng ngày càng đông đảo trên thế gian nhưng từ trước đến nay có được bao người giác ngộ, giải thoát khỏi nghiệp chướng, khổ đau? Cho dù, Phật Pháp có đơn giản, dễ dạy đến đâu nhưng khi mà nhân duyên chưa tới với những kẻ độn căn thì cho dù bồ tát có tái sinh, cố tâm chỉ độ pháp Phật cao siêu vi diệu cho nhân sinh còn đầy vô minh cũng chỉ tốn công vô ích, chẳng khác gì đem đàn gảy cho trâu nghe. Một trong những pháp môn đơn giản nhứt của Phật Pháp đó là thiền định (Zen). Zen khả dĩ có thể giúp cho hành giả giảm bớt căn thẳng tâm thần. Nếu luyện tập chuyên cần, Zen có khả năng giúp thân tâm có đủ sức mạnh lẫn nghị lực tinh thần để chuẩn bị đối phó với trở ngại xãy ra. Zen có thể giúp ta hóa giải tâm lý lúc mà đau khổ tái phát làm khổ tâm thân trong cuộc sống thay vì mong tu hành giác ngộ, giải thoát, thành Phật quá xa vời. Cũng như những pháp môn khác, Zen có mục đích giúp ta lúc “đa tâm bấn lo
14/03/201808:41(Xem: 3358)
Sài Gòn- Trần Củng Sơn- Sáng ngày Thứ Sáu 9 tháng 3 năm 2018, giáo sư Vũ Thế Ngọc đã trình bày về triết học của Tổ sư Long Thọ tại chùa Xá Lợi Sài Gòn với sự tham dự khoảng một trăm thiện hữu tri thức Phật Giáo. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc- một cây bút nổi tiếng trong nước về những bài viết về tuổi trẻ và Phật Giáo- đại diện Ban tổ chức giới thiệu diễn giả.
13/03/201809:06(Xem: 3722)
Từ lúc sinh ra, tất cả chúng ta muốn sống một đời sống hạnh phúc và đó là quyền của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều người cùng chia sẻ quan điểm rằng hệ thốn giáo dục hiện hữu của chúng ta là không đầy đủ khi đi đến việc chuẩn bị cho con người yêu thương hơn – một trong những điều kiện để hạnh phúc. Như một người anh em nhân loại, tôi nguyện làm cho mọi người biết rằng tất cả chúng ta cùng sở hữu những hạt giống của từ ái và bi mẫn. Có một bộ não thông minh chưa đủ; vì chúng ta cũng cần một trái tim nhiệt tình
03/03/201809:16(Xem: 7320)
CHÁNH PHÁP Số 76, tháng 03.2018 Hình bìa của Google Images NỘI DUNG SỐ NÀY: ¨ THƯ TÒA SOẠN, trang 2 ¨ TIN TỨC PHẬT GIÁO THẾ GIỚI (Diệu Âm lược dịch), trang 3 ¨ VU VƠ, CAFÉ PALOMA (thơ Nguyễn Bá Trạc), trang 8 ¨ NỘI DUNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA, t.t. (HT. Thích Thắng Hoan), trang 9 ¨ ĐIỂM HẸN, MƯỢN TỪ ĐÂU (thơ NT Khánh Minh), trang 12 ¨ CŨNG LẠI LÀ TIM SEN (ĐNT Tín Nghĩa), trang 13 ¨ XUÂN ĐẠO, HƯƠNG XUÂN (thơ Chúc Hiền), trang 15 ¨ THƯ MỜI THAM DỰ LỄ HÚY NHẬT ĐLHT. THÍCH TRÍ CHƠN (TT. Thích Hải Chánh), trang 16 ¨ TÂM THƯ VẬN ĐỘNG MUA CƠ SỞ MỚI LÀM CHÙA BÁT NHà (HT. Thích Nguyên Trí) 17 ¨ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ PHẬT GIÁO ỨNG DỤNG (Tuệ Uyển dịch), trang 18 ¨ MÙA XUÂN & CỎ HOA (thơ Mặc Phương Tử), trang 21 ¨ Ở ĐỜI VUI ĐẠO (Nguyễn Thế Đăng), trang 22 ¨ ĐÊM NGHE CHUÔNG VỌNG (thơ Huệ Trân), trang 23 ¨ MÙA XUÂN, THI CA VÀ THIỀN ĐẠO (Sakya Minh Quang), trang 24 ¨ TA ÚP MẶT (thơ Quách Thoại), trang 27 ¨ FRANCIS STORY (1910 – 1971) (H
03/03/201809:05(Xem: 2225)
Có những vần thơ gắn liền với mỗi người từ thuở biết viết, biết đọc cho đến lúc trưởng thành, đi theo suốt cuộc đời, và cũng có thể…cho đến hơi thở cuối cùng. Những vần thơ hay những câu thơ của những thi sĩ nổi danh mà mình đã thuộc nằm lòng, đã ghi nhớ tận đáy sâu của ký ức, và bỗng một lúc nào đó, ở một tình huống nào đó, một nhân duyên nào đó, tự chúng hiện ra một cách tự nhiên trong dòng tư tưởng, sự nghĩ suy, và bộc ra thành lời nói như là của chính mình và đôi lúc, chỉ nhớ đến vần thơ, câu thơ đó mà cũng không hề nhớ đến tác giả là ai nữa ! Các vần thơ, các câu thơ ấy thực sự đã gắn liền với mình, với đời sống mình, đôi lúc còn được xem như là kim chỉ Nam để giúp mình phản ứng, cư xử trước mọi hoàn cảnh, vui hay buồn, tốt hay xấu đang xảy ra.
03/02/201820:02(Xem: 3890)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
22/01/201807:04(Xem: 2462)
Tôi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng lần đầu tiên vào năm 1972. Chỉ ba ngày sau khi tôi đến Dharamsala ở miền bắc Ấn, ngài đã bắt đầu khóa thuyết giảng 16 ngày, bốn đến sáu tiếng mỗi ngày về những giai đoạn của con đường Giác Ngộ. Tôi đã bắt đầu học Tạng ngữ và thực tập Phật giáo Tây Tạng vào năm 1962, và những vị thầy của tôi, đặc biệt chỉ bảo về những sự phức tạp của các luận điển Tây Tạng, đã chuẩn bị cho tôi việc học hỏi với những học giả du già Tây Tạng tị nạn ở Ấn Độ. Nhưng thật tình mà nói, tôi không nghĩ rằng một vị tái sanh được chỉ định nắm quyền sinh ra ở đông bắc Tây Tạng năm 1935 và được nhìn nhận qua những sự tiên đoán, các giấc mộng, những biến cố cực kỳ phi thường, và các thử nghiệm như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào lúc 2 tuổi – có thể đảm đương nhiệm vụ quan trọng như vậy.