Pali Căn Bản

08/04/201319:32(Xem: 16548)
Pali Căn Bản

Pāli Primer
Compiled by Lily de Silva, M.A., Ph.D.
University of Peradeniya
Sri Lanka

Pāli Căn Bản
Tỳ kheo Giác Hạnh (Dhamma-dhara)
Chuyển dịch

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn sách Pāli Căn Bản này được soạn bởi nữ giáo sư Lily de Silva người Sri Lanka thuộc phân khoa nghiên cứu Phật giáo và Pāli của Trường Đại Học Peradeniya, Sri Lanka vào năm 1991.

Sau những năm tháng du học ở ngoại quốc, tôi đã được học qua những lớp Pāli từ thấp lên cao dưới sự hướng dẫn của những giáo sư khác nhau trong các trường Đại Học ở Myanmar và Sri Lanka. Cuốn sách Pāli Căn Bản này là một trong những tài liệu giáo khoa mà tôi đã học trong những năm tháng còn là Tăng sinh dưới những mái trường thân yêu của Phật giáo nội và ngoại quốc. Tôi thiết nghĩ rằng cuốn sách này rất hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu ngôn ngữ Pāli trong bước đầu học đạo và cũng là nền tảng cho những ai muốn đi sâu vào Chánh Tạng của Phật giáo. Vì lý do đó, tôi đã tinh tấn vượt qua mọi khó khăn và sắp xếp chút thời gian để dịch cuốn sách này với mục đích cúng dường đến quý độc giả. Tuy nhiên, với kiến thức thô thiển và kinh nghiệm còn nông cạn trong khi sử dụng ngôn từ cũng như cú pháp, vả lại đây chỉ là bước khởi đầu trên con đường dịch thuật của tôi, thiết nghĩ rằng không sao tránh khỏi những vấp váp và sai lầm. Vì thế, tôi thành thật ngưỡng mong các bậc cao minh từ bi chỉ giáo để lần tái bản sau được hoàn chỉnh và tốt đẹp hơn.

Nhân đây, tôi cũng xin chân thành tri ân nữ giáo sư Lily de Silva là soạn giả của tác phẩm Pāli Căn Bản này. Cũng xin thành thật đa tạ Thượng Tọa Chánh Thân (Ven. Indacanda) là người đã cung cấp tài liệu và bỏ nhiều công sức trong việc duyệt lại toàn bộ bản dịch, đồng thời đã khích lệ về mặt tinh thần. Và cũng không quên thành tâm tri ân Đại Đức Hộ Phạm (Ven. Brāhmapalita) là người đã hướng dẫn tôi thêm một số kiến thức về cú pháp.

Xin hồi hướng tất cả phước báu trong sạch này đến Thầy Tổ, Cha Mẹ, ân nhân, thân bằng quyến thuộc, các bằng hữu, và hết thảy chúng sanh trong cõi ta bà này.

Sri Lanka, ngày 26 tháng 06 năm 2004
Bhikkhu Giác Hạnh
(Hồ Quang Khánh)


Tải PDF

----o0o----

Ý kiến bạn đọc
28/06/202013:11
Khách
lê thị thu hằng
tôi muốn học tiếng pali căn bản
10/11/201809:29
Khách
trong sách không có phiên âm( cách đọc) ạ?
09/06/201806:50
Khách
Tôi muốn học tiếng pali thì phải làm sao dạ
05/01/201814:03
Khách
Tôi muốn học tiếng Pali và nghiên cứu Phật học
05/01/201814:02
Khách
Tôi tự học tiếng Pali và nghiên cứu Phật học
06/11/201701:36
Khách
Tôi muốn học tiếng pali
08/07/201607:50
Khách
Học pali căn bản
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/04/2013(Xem: 11448)
Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các người chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta ...
01/04/2013(Xem: 11188)
Bài pháp này đã được Đức Phật thuyết cho ẩn sĩ Subhadda ngay vào lúc sắp viên tịch Níp Bàn giữa hai cây Sàlà (vườn Ingyin) gần thành Kusinãra, xin trích đoạn sau ...
01/04/2013(Xem: 12556)
“ Đức Phật dạy chư tỳ kheo có bổn phận suy xét hằng ngày 4 điều: Ân đức Phật, rãi tâm từ, niệm sự chết và quán bất tịnh!”. Hành giả cần phải: Hành 14 giờ chính thức mỗi ngày bằng thiền, trong tư thế ngồi và đi ...
01/04/2013(Xem: 9358)
Nhiều người cho rằng đức tin và trí tuệ trong thiền quán (vipassanà) đối nghịch nhau, mâu thuẫn và không thể phối hợp. Không phải vậy! chúng thân hữu và là hai nội lực quan trọng. Trong thông tin vừa rồi, tôi đã viết về những điểm đặc thù và khác biệt giữa các hành giả châu Aù và phương Tây.
29/03/2013(Xem: 6967)
Khi truyền bá rộng rãi sang châu Á, Phật giáo thành công khi vượt qua một số vấn đề nổi bật từ những giới hạn về ngôn ngữ trong một số trường hợp phải phiên chuyển thành một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ nói của Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật được truyền đạt bằng lời nói qua vô số ngôn ngữ và tiếng nói địa phương. Còn Kinh tạng, khi đã được viết ra, lại được phiên dịch thành hàng tá ngôn ngữ ngay cả trước thời kỳ hiện đại. Do vì nguồn gốc lịch sử không cho phép các học giả dùng ngôn ngữ nói trong việc giảng dạy, bài viết này sẽ tập trung vào những ý tưởng được viết ra, nhằm khảo sát việc truyền dạy qua lời nói chỉ trong thời kỳ Phật giáo Ấn Độ.
01/03/2013(Xem: 9403)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo, làm căn bản cho bộ Duy thức luận của Vasubandhu. Học thuyết Duy tâm được biểu hiện trong các câu quen thuộc, thường được trích dẫn trong kinh Lăng Già, chỗ nào cũng là tâm cả (nhất thiết xứ giai tâm), tất cả hình tướng đều do tâm khởi lên (chúng sắc do tâm khởi), ngoài tâm không có cái gì được trông thấy (tâm ngoại vô sở kiến), thế gian chỉ là tâm (tam giới duy thị tự tâm), ba cõi do tâm sinh (tam giới do tâm sinh) v.v..
20/01/2013(Xem: 10313)
Tôi không cần thảo luận sự chân thật tu chứng, nhưng khi chúng ta nghiên cứu học vấn, phụng sự Phật pháp hay làm những việc phúc lợi xã hội, chúng ta cần phải lấy Phật pháp làm kim chỉ nam chỉ đạo cho chính mình, sách tấn chính mình, điều đó sẽ giúp cuộc sống tinh thần củachúng ta càng ngày càng tốt hơn...
31/12/2012(Xem: 9340)
Phật giáo hiện hữu trên đất nước Việt Nam, hơn 2000 năm đồng hành cùng dân tộc. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của đất nước Phật giáo luôn làm tròn sứ mệnh của một tôn giáo gắn liền với nền văn hoá nước nhà. Chiến tranh đi qua, để lại bao đau thương mất mát, cảnh vật hoang tàn, đời sống nhân dân nghèo đói cơ hàn. Đến thời độc lập, ngoại xâm không cò n nữa, đất nước từng bước chuyển mình đi lên, Phật giáo cũng nhịp nhàn thay màu đổi sắc vươn lên, GHPGVN được ra đời vào ngày 07/11/1981 đến nay gần 22 năm với VI nhiệm kỳ hoạt động của giáo hội.
28/12/2012(Xem: 13436)
Trong bầu không khí trang nghiêm, hòa hợp, thắp sáng niềm tin vào nền giáo dục nhân bản Phật giáo của ngày Hội thảo Giáo dục Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VI (2007 -2012) của Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương với chuyên đề “Giáo dục Phật giáo Việt Nam định hướng và phát triển”, tôi xin phát biểu một số ý kiến chung quanh vấn đề Giáo dục Phật giáo như sau:
02/08/2012(Xem: 24513)
Phước thiện thuộc về danh pháp (nāmadhamma) hay thuộc về thiện tâm, không phải vật chất, nên khó thấy, khó biết, chỉ có bậc có trí tuệ, có thần thông mới có thể biết người nào có phước thiện.