07-Phật giáo độ sanh

28/01/201109:41(Xem: 11726)
07-Phật giáo độ sanh

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT
HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

Phậtgiáo độ sanh

I.MỞ ÐỀ

Tấtcảviệc làm của Phật giáo đều tập chú vào lợi ích chochúng sanh. Chúng sanh là đối tượng duy nhất của Phật giáo.Thế nên sự truyền bá của Phật giáo vì lợi ích chúng sanh.Nếu không vì lợi ích chúng sanh, sự truyền bá ấy là vônghĩa lý. Chúng sanh ở đây là những người hiện có mặt,nghe hiểu được những lời giáo hoá. Chúng ta đừng hiểuchúng sanh là những âm hồn, những kẻ chết. Nếu Phật giáosống với kẻ chết, thực chất Phật giáo đã chết mấtrồi. Thế mà gần đây có một số Tăng, Ni đưa Phật giáođi vào cõi chết. Tăng, Ni xuất hiện đông đủ chỉ ở nhữngđám ma chay. Phật sự quan trọng của Tăng, Ni là đưa ma cúngđám. Ðó là nét bi thảm đang xuất hiện trên hình ảnh Phậtgiáo Việt Nam. Cần nói một câu chính xác hơn: "Phậtgiáo độ sanh, không phải độ tử." Nếu ai cố tìnhđem Phật giáo vào cõi tử, chính là kẻ làm hoại diệt Phậtgiáo.

II.GIẢNG DẠY

Vìtính cách độ sanh nên những người truyền giáo có bổn phậnhằng giảng dạy cho tín đồ thông hiểu Phật giáo. Mỗi ngôichùa là một nơi giảng dạy kinh điển, mỗi buổi lễ làmỗi lần giảng dạy giáo lý. Có thế, người Phật tử mớibiết rõ đường lối tu hành, mới thâm nhập được giáolý cao siêu. Phật giáo đã tự hào có một kho tàng kinh điểndồi dào, mà người Phật tử kể cả Tăng, Ni, đa số dốtnát về giáo lý. Lỗi ấy tại ai? Bởi sự truyền bá cònsơ sót yếu kém, chính Tăng, Ni phải chịu trách nhiệm. Sởdĩ có sơ sót này, vì Tăng, Ni bận quá nhiều thì giờ lo chongười chết. Một người chết, Tăng, Ni mất mấy ngày đêmcó mặt tại tang gia, sau khi chôn cất xong, phải mất bao nhiêungày trong những lễ trai tuần. Nếu chùa có đôi ba ngàn Phậttử, thử hỏi Tăng, Ni còn thì giờ đâu lo tu học và truyềnbá chánh pháp. Quả là chúng ta làm lệch lạc trọng tráchcủa mình. Việc đáng làm chúng ta lại không làm, việc khôngđáng làm chúng ta lại dồn hết thì giờ vào đó. Ví nhưngười chết đã nằm cứng đờ trong quan tài, mà ba bốn vịTăng, Ni có khi nhiều hơn, thường trực tụng kinh cho họ nghe,thử hỏi đã nghe được những gì? Ðúng theo tinh thần Phậtgiáo, người chết sau khi tắt thở tùy nghiệp thiện ác theođó đi thọ sanh, có ai còn lẩn quẩn bên quan tài để chúngta tụng kinh cho họ nghe. Việc làm này quả thật không đáng,mà chúng ta tốn nhiều thì giờ. Vì thế, việc tối quan trọnglà giảng kinh dạy đạo, chúng ta phải bê tha đi. Nếu thậtngười chân chánh xuất gia, chúng ta phải điều chỉnh lại,đừng để đi mãi trên con đường sai lầm như thế. Chúngta hằng nhớ trọng trách của mình là phổ biến chánh pháplợi ích quần sanh, không phải vì tụng cúng để được lòngPhật tử.

III.-DỊCH KINH VIẾT SÁCH

Kinhđiển Phật giáo hiện giờ chưa được phiên dịch hết rachữ Việt. Thế là trọng trách Tăng, Ni còn nặng nề biếtmấy. Những bản kinh chữ Phạn, sang Trung Quốc người ta đãphiên dịch thành chữ Hán. Tạng kinh chữ Hán có mặt ở ViệtNam khá lâu rồi, Tăng, Ni Việt Nam chưa phiên dịch đượcmột phần mười (1/10). Cho đến những nghi lễ tụng niệmhằng ngày cũng vẫn đọc theo phiên âm chữ Hán, quả là mộtthiếu sót to tát của Phật giáo Việt Nam. Tại sao Tăng, Nikhông dồn hết thì giờ của mình trong việc học tập đểphiên dịch kinh điển? Bởi vì Phật tử đòi hỏi việc đưama cúng đám, Tăng, Ni mới thiếu thì giờ học tập. Tăng,Ni là người hướng dẫn Phật tử, tại sao chúng ta mãi đểnhững đòi hỏi không đáng, làm mất thì giờ vàng ngọc củangười tu? Chính tại Tăng, Ni không gan chẳng dám nói thẳng,sợ mất cảm tình, khiến tệ đoan càng ngày càng thêm. Ðâunhững thế, có một thiểu số Tăng, Ni lại bày biện đủcách rối ren, khiến đã mất thì giờ lại thêm mất thì giờ.Những kẻ này bề ngoài xem dường như thương Phật pháp,kỳ thật họ lợi dụng Phật pháp làm kế sanh nhai. NgườiPhật tử dốt nát không biết, thấy bày biện chừng nào lạicàng thích chừng ấy, quả thật kẻ mù dắt đám mù. Kinhđiển là những phương thuốc độ đời, Tăng, Ni là ngườichịu trách nhiệm truyền bá, mà không dồn hết thì giờ họctập phiên dịch, thật là trái với bổn phận biết bao. Tổtiên chúng ta khi xưa học chữ Hán, nên Tạng kinh chữ Hánvốn không có gì khó khăn. Hiện nay chúng ta học chữ Việt,Tạng kinh chữ Hán là một cổ ngữ không làm sao đọc được.Tăng, Ni hiện nay không cố gắng dịch ra chữ Việt, vô tìnhchúng ta để giáo lý chết khô và chôn sâu trong các tủ kinhnhà chùa.

IV.THỌ CÚNG DƯỜNG

Khixưa Phật còn tại thế, nếu Phật tử muốn thỉnh Phật vàTăng chúng cúng dường, Phật đều thọ nhận. Ðúng giờ thọtrai, Phật và chúng Tăng mới đến, nghỉ ngơi giây lát rồithọ trai. Thọ trai xong, trong gia quyến tụ họp ngồi chungquanh đức Phật, Ngài vì gia quyến thuyết pháp, thuyết phápxong, Phật vì gia quyến chúc lành, đứng dậy ra về. Thếthì người cúng dường vì Phật và Tăng chúng mà cúng, ngườithọ cúng dường cũng vì gia chủ hiện tại mà thọ. Phậtthuyết pháp chúc lành cũng vì người sống hiện có mặt,đúng là ý nghĩa độ sanh. Ngày nay chúng ta lại khác, gặpngày tuần, ngày giỗ của cha mẹ, Phật tử thỉnh Tăng, Nicúng dường. Tăng, Ni thọ trai xong, vì người chết tụng mộtbiến kinh cầu nguyện, cầu nguyện xong ra về. Như vậy, ngườicúng dường vì kẻ chết mà cúng, người thọ cúng dườngcũng vì kẻ chết mà cầu nguyện. Cả hai điều vì ngườichết , quả là Phật giáo độ tử, đâu còn là nghĩa độsanh. Tăng, Ni đến nhà không có lợi ích gì cho người hiệntại hết, chỉ cầu lợi ích cho kẻ quá cố, song người quácố chắc gì có mặt ở đây, nếu người quá cố đã thácsanh nơi nào rồi, việc làm này có phải viển vông không thiếtthực chăng? Tại sao chúng ta không giữ theo nếp xưa, thựchành đúng tinh thần cúng dường Phật và Tăng chúng thuởtrước, để ý nghĩa độ sanh được vẹn toàn, sự lợi íchcụ thể thiết thực tròn đủ trăm phần? Trước đã quáhay, tại sao nay chúng ta lại bỏ? Nay thật dở, tại sao chúngta lại theo? Ở đây, chúng ta cần chỉnh lại, đừng đểđưa Phật giáo vào cõi chết, gây thêm mê tín cho Phật tử,trái với đạo lý giác ngộ chân thật của đức Thích-ca.

Hơnnữa, khi xưa đức Phật thuyết pháp cho dân chúng nghe, nhânnghe pháp dân chúng liền cúng dường cơm, Phật không thọnhận. Phật cho nhận như thế là nhờ giảng dạy nên có cơmăn, không phải do lòng chân thành phát tâm cúng dường củaPhật tử. Ngày nay tại sao chúng ta đi tụng kinh cho Phật tửđể được cúng cơm cúng tiền, hoan hỉ thọ nhận? Làm thếcó phải đi tụng kinh thuê chăng? Có trái với tông chỉ củaPhật ngày xưa không? Ngày xưa, đức Phật cao cả thanh bạchđến thế, ngày nay chúng ta ti tiện thấp hèn lắm vậy. Ðâycũng là một điều chúng ta phải lưu tâm chỉnh đốn lại,đừng để những tệ tục cứ dắt mãi chúng ta trong đườngmê tối. Thậm chí hiện nay có một ít Tăng, Ni đến tậnnhà Phật tử dùng đủ lời lẽ để quyên tởi, thật đaulòng thay! Ðạo lý nào dạy những điều ấy?

V.DĨ HUYỄN ÐỘ CHÂN

Hoặccó người nói những việc cúng đám ma chay cho các Phật tửchẳng qua "dĩ huyễn độ chân", nhân cơ hội tang gia bối rối,chúng ta đến với họ để có cảm tình dẫn dắt họ vàođạo. Nhưng xin đặt câu hỏi, nếu vì cảm tình đến vớiđạo, mai mốt mất cảm tình thì sao? Chủ trương đạo Phậtlà tự giác tự nguyện, nếu không vì lẽ tỉnh giác đếnvới đạo, người ấy vẫn chưa xứng đáng là Phật tử.Huống chi, vì chiều theo cảm tình của họ, Tăng, Ni mất hếtgiá trị cao thượng, thanh nhã của mình, được đôi ba ngườiPhật tử, mà người truyền giáo mất hết giá trị, thửhỏi việc ấy có đáng làm không? Chúng tôi đồng ý, nếucần Tăng, Ni đến đám ma đám tuần tại nhà Phật tử, songvới điều kiện tang gia thân quyến tụ họp lại, để ngheTăng, Ni giảng một thời kinh, xong rồi hồi hướng công đứccho người chết, Tăng, Ni ra về. Như thế, khả dĩ nói "dĩhuyễn độ chân" được. Bởi vì nhân người chết, chúngta giáo hóa kẻ sống cho hiểu đạo lý. Ðám tuần, ngày kỵđều nên tổ chức như thế, việc làm này không trái vớichánh pháp.

Hoặccó người nói Phật giáo từ bi, khi giáo hoá kẻ dương lànghĩ đến người âm, muốn làm sao cho âm dương lưỡng lợi,mới đầy đủ lòng từ. Chúng tôi đồng ý lẽ này, nhưngtrong chùa trước khi thọ trai, Phật dạy Tăng, Ni phải cúngchim đại bàng, quỉ la-sát và các quỉ thần, không phải vìkẻ âm là gì? Mỗi chiều ở chùa hầu hết đều dùng nghiMông Sơn để cúng cô hồn, đâu không phải vì kẻ âm. Hằngđêm ở chùa hai thời công phu, Tịnh độ sau đó đều phụcnguyện "âm siêu dương thới", còn gì không đủ lòng từ bi.Nếu Phật tử có lòng hiếu thảo muốn cầu nguyện cho thânnhân, cứ đến chùa vào những thời công phu, Tịnh độ, Tăng,Ni sẽ vì thân nhân họ cầu nguyện cho. Có thế, không mấtthì giờ tu hành của Tăng, Ni, Phật tử cũng được mãn nguyện.Biết tôn trọng những bậc thầy hướng dẫn mình mới gọingười ấy biết đạo đức, vì việc riêng của mình, đểbậc thầy mình mất hết giá trị cao thượng, là đạo đứcchỗ nào? Sự hướng dẫn không khéo cả thầy lẫn trò làmviệc vô nghĩa, còn chuốc lấy sự đau khổ là khác. Khi Phậtcòn tại thế, chúng ta có nghe Ngài đi đưa đám lần nào đâu.Cho đến chư Tỳ-kheo môn đồ của Phật, cũng không nghe điđưa đám lần nào. Tại sao chúng ta hiện nay, cứ bận rộnđám ma đám tuần mãi. Thế là chúng ta đã đi đúng đườngPhật hay đã sai rồi, cần phải vận dụng công tâm xét lạiđiều này. Bởi Tăng, Ni xuất hiện trong xóm làng đều donhà có ma chay, nên bất thần Tăng, Ni đến nhà người nàohọ liền ghét sợ, coi như một điềm bất tường sắp đếncho gia đình họ. Thật là ngày xưa xem "một vị Tăng đếnlà một ông Phật lại", ngày nay thì ngược lại. Thử hỏicòn gì hổ thẹn cho bằng?

VI.KẾT LUẬN

Chủyếu Phật giáo độ sanh một cách thiết thực, người mônđồ Phật giáo phải thấy rõ điều này. Tất cả hành động,mọi cuộc tổ chức đều nhằm thẳng giáo hoá chúng sanh,bằng con đường từ bi giác ngộ. Ðem hạt giống từ bi giácngộ gieo rắc trong lòng mọi người là truyền bá đạo Phật.Ngược lại, đem tình cảm mê tín gieo rắc trong lòng tín đồ,thử hỏi đây là truyền đạo gì? Vì giải thoát cho mìnhcho chúng sanh, nên chúng ta đi tu, tại sao chúng ta trở thànhkẻ chiều chuộng phục vụ tín đồ để được cơm ăn áomặc? Quả là điều sai đạo lý không hợp với chánh pháp,chúng ta phải gan dạ đập tan những tập tục sai lầm ấy,đem lại con đường tu hành cao thượng thanh bai cho chính mìnhvà huynh đệ mai sau. Trọng trách của chúng ta không phải đóngkhung trong một nhóm bổn đạo, mà phải đem đạo giác ngộgiải thoát lại cho toàn thể chúng sanh. Làm được như vậymới đúng tinh thầnPhật giáo độ sanh.










Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 18045)
Có hai hình ảnh quen thuộc gợi lên ý tưởng biến dịch: như dòng sông và như ngọn lửa bốc cháy trên đỉnh núi. Mỗi hình ảnh lại gợi lên một ý nghĩa tương phản: tác thành và hủy diệt. Trời đất như đã thay loài người nói lên ý nghĩa của sự sống, . . .
09/04/2013(Xem: 10334)
Buổi sáng, trời hơi se lạnh và ẩm ướt âm u, hồi đêm hình như rất gió và ầm ì những tiếng sấm gợi lại những lo sợ xa xôi của thời còn chinh chiến. Nhìn ra khung cửa, đồi cỏ vẫn trải dài thoai thoải, những khu vườn xung quanh đã rực rỡ những đóa hoa xuân.
09/04/2013(Xem: 5000)
Ngược dòng thời gian năm 1984, tôi viết quyển sách đầu tiên ‘Chìa Khóa cho người Tỵ Nạn’ dành cho những người tỵ nạn Đông Nam Á, giúp họ giữ vững niềm tin và hiểu biết tường tận hơn về tôn giáo của mình để đối đầu với các hành động có hậu ý của các nhà truyền giáo Ki tô muốn họ cải đạo.
09/04/2013(Xem: 17739)
Tất cả chúng sanh đều vô thỉ đến nay, vì chấp có thật ngã, thật-pháp mà tạo ra các nghiệp, rồi bị các nghiệp dắt dẫn nên xoay vành mãi theo bánh xe sanh tử luân-hồi. Nếu con người hiểu rỏ một cách chắc chắn rằng: tất cả các pháp trong vũ-trụ, nhân và ngã đều không thật có, chỉ do thức biến hiện, như cảnh trong chiêm bao, mà không còn gây phiền não, tạo nghiệp-chướng nữa, thì tất không còn bị ràng buộc, trong bánh xe sanh tử luân hồi. Để phá trừ hai món chấp thật-ngã và thật-pháp, Đức-Phật có rất nhiều phương-pháp, có rất nhiều pháp thiền, mà Duy-Thức-Tôn hay Pháp-tướng-tôn là một pháp tu rất cần thiết, rất hiệu-nghiệm để đi đến giải-thoát.
08/04/2013(Xem: 34662)
Cuốn sách này gạn lọc trí tuệ hàng ngàn năm của Phật Giáo Tây Tạng, được chuyển tải bằng những từ ngữ đơn giản, dễ hiểu đối với mọi người. Mục đích chính yếu của tôi là trình bày những giáo lý không chỉ có tính cách chữa trị sự đau khổ và vô minh của chúng ta về sự chết và sự hấp hối mà còn giúp chúng ta chứng đạt mục tiêu an lạc vô thượng, không những cho đời này mà còn cho sự chết và cõi bên kia nữa.
08/04/2013(Xem: 12725)
Nói đến Ấn Độ là nói đến một nền văn hóa với nhiều truyền thống tôn giáo. Nơi đây có nhiều triết thuyết ra đời với nhiều tư tưởng khác nhau. Nhưng tất cả các học thuyết sau này đều dựa vào tư tưởng triết học Upanishad; vì từ rất sớm, . . .
08/04/2013(Xem: 30292)
Quan điểm của triết học Ấn Độ, các thần linh là không thể tách rời trong nhận thức mọi người, cho dù đã mấy ngàn năm qua cho đến hiện này và mãi đến ngàn sau thì Phạm Thiên thư cũng không thay đổi. Và con người phải chấp nhận Đấng Phạm Thiên (Brahma), . . .
08/04/2013(Xem: 7888)
Việc tế đàn ngoài mục đích cầu mưa rơi xuống tưới mát ruộng đồng đem thắng lợi cho số đông, an cư lạc nghiệp, thành công, con đàn cháu đống, gia súc tăng trưởng, trường thọ, cường tráng…
08/04/2013(Xem: 8836)
Đi tìm bản chất của bản ngã cùng các quy luật của nó chính là nội dung mà bao thế hệ Veda đã và đang nỗ lực xây dựng nhằm hoàn thiện thiên chức thiêng liêng mà Đấng tối cao Brahman đã giáo phó.
08/04/2013(Xem: 7445)
Thuyết vô thần[1], hay chủ nghĩa vô thần, là một quan điểm khẳng định rằng thần thánh không tồn tại, hoặc phủ nhận “đức tin”[2] vào thần thánh. Từ “vô thần” còn được định nghĩa một cách rộng hơn là sự không có đức tin vào thần thánh, đồng nghĩa với phi thần luận (nontheism).