Không Thấy Gì Để Tranh Cãi

25/04/202523:05(Xem: 4650)
Không Thấy Gì Để Tranh Cãi

phat thanh dao

Không Thấy Gì Để Tranh Cãi

Nguyên Giác

 

Đôi khi bạn rơi vào một diễn đàn Phật pháp trên Internet, bất ngờ lại thấy tranh cãi bộ phái, rằng chuyện Nam Tông thế này và Bắc Tông thế kia , rằng chuyện Thiền Tông bên ni và Tịnh Độ bên nớ, và những chuyện tương tự... khi người này nói rằng chỉ có họ đúng và người khác hẳn phải là sai. Ngay cả đôi khi bạn mở truyền hình ra xem, cũng bất ngờ khi thấy một vị sư hay một cư sĩ Phật tử nói những chuyện tương tự. Những tranh cãi hiện ra bất kể rằng họ cùng thờ Đức Phật, cùng công nhận các pháp ấn, cùng tu pháp Bát Chánh Đạo, nhưng một khác biệt nào đó đã được xem là lệch nghĩa. Dò lại kinh điển, chúng ta thấy rằng Đức Phật nói rằng người trí sẽ không thấy gì để tranh cãi nữa, vì tâm họ đã xa lìa cõi này.

Đức Phật nói trong kinh điển rằng cần phải hòa hợp. Truyền thống Phật giáo Việt Nam cũng tôn trọng sự dị biệt tông phái. Thực tế, thời Đức Phật không hề có chia tông, rẽ phái. Thực tế, thời Đức Phật cũng chưa hề có cái gì gọi là Đạo Phật hay Phật Giáo như chúng ta hiểu. Lúc đó, Đức Phật chỉ nói rằng cõi này là khổ, và đây là con đường thoát khổ. Thực tế, không nói tới chuyện các bậc trí tuệ, hay những vị thánh, chỉ cần tự nhìn vào tâm một người phàm như chúng ta, nhìn kỹ xem, rồi sẽ thấy trong tâm mình không hề có vết tích gì gọi là Nam Tông hay Bắc Tông, thậm chí trong cái tâm tự nhìn, tự quan sát này cũng không hề có cái gì gọi là để phải bấu víu, để tranh cãi với bất kỳ ai.  

Trong một bản Kinh được Đức Phật khi còn sinh tiền chọn đưa vào trong nhóm Kinh Nhật Tụng để chư tăng tụng hàng ngày, có Kinh Sn 4.13 – Mahaviyuha Sutta (Đại Kinh về Tranh Cãi). Nơi đây, Đức Phật nói rằng người trí tuệ, khi đã xa lìa trần gian cõi này rồi, họ không thấy gì để cãi nhau nữa, vì tâm của họ hoàn toàn tịch lặng, không còn một kiến (cái thấy rằng thế này, hay thế kia) nào nữa. Trích đoạn bản dịch Nguyên Giác như sau:

912. Người trí xa lìa mọi ràng buộc với thế giới này. Khi tranh cãi khởi dậy, họ không về phía nào. Giữa những người dao động, người trí vẫn tịch lặng. Giữa những người nắm giữ các kiến, người trí không nắm giữ gì.

913. Rời bỏ nghiệp cũ, không tạo nghiệp mới, không theo tham dục, không dựng giáo thuyết, lìa các kiến thủ, không dính mắc với thế giới này, người trí tuệ cũng không tự thấy có lỗi gì.

Có một câu chuyện thường được nhắc tới trong Kinh Pháp Cú, nơi bài Kệ số 6, đó là về các Tỳ kheo Kosambi. Truyện kể rằng các Tỳ kheo ở Kosambi đã chia thành hai nhóm. Một nhóm theo bậc thầy về Luật và nhóm kia theo bậc thầy về Giáo pháp và họ thường tranh cãi nhau. Ngay cả Đức Phật cũng không thể ngăn họ tranh cãi; vì vậy, Ngài đã rời bỏ họ và dành thời gian trú ngụ trong mùa mưa, một mình tại Rừng Rakkhita gần rừng Palileyyaka. Ở đó, con voi Palileyya đã theo hầu hạ Đức Phật.

Các đệ tử tại gia ở Kosambi, khi biết lý do Đức Phật ra đi, đã từ chối cúng dường cho các Tỳ kheo còn lại. Điều này khiến họ nhận ra lỗi lầm của mình và đã hòa giải với nhau. Tuy nhiên, các đệ tử tại gia không đối xử với họ một cách tôn trọng như trước, cho đến khi họ thừa nhận lỗi lầm của mình với Đức Phật. Nhưng Đức Phật đã đi vắng và đang ở giữa mùa mưa; vì vậy các Tỳ kheo ở Kosambi đã trải qua mùa an cư trong đau khổ và khó khăn.

Vào cuối mùa an cư, Tôn giả Ananda và năm trăm Tỳ kheo đã đến gặp Đức Phật và chuyển lời nhắn từ Annathapindika và các đệ tử tại gia khác cầu xin Ngài quay trở lại. Đúng lúc đó, Đức Phật đã trở về tu viện Jetavana ở Savatthi. Các Tỳ kheo đã đi theo Ngài đến đó, quỳ xuống dưới chân Ngài và nhận lỗi của mình. Đức Phật đã khiển trách họ vì đã không vâng lời Ngài. Ngài bảo họ hãy nhớ rằng một ngày nào đó tất cả họ đều phải chết và do đó, họ phải ngừng cãi vã và không được hành động như thể họ sẽ không bao giờ chết. Sau đó, Đức Phật đã nói bằng bài kệ 6 trong Kinh Pháp Cú như sau:

Bài kệ 6: Những người chưa có trí tuệ không nhận ra rằng, "Chúng ta trên thế gian này đều phải chết" (và không nhận ra điều đó, họ tiếp tục tranh cãi). Bậc trí tuệ nhận ra điều đó và do đó, những cuộc tranh cãi của họ chấm dứt.

Khi bài Kệ số 6 của Kinh Pháp Cú đọc xong, tất cả các vị sư đều chứng được sơ quả.

Điều hay của chuyện này là, tất cả các vị sư (cũng như tất cả mọi người trên cõi đời này) đều đã từng có lúc học, nghe, biết và hiểu rằng, bất kỳ ai cũng phải chết. Nhưng khi Đức Phật đọc bài kệ này xong, 500 vị sứ đó liền chứng sơ quả. Đây là pháp Niệm Tử, tức là Niệm Cái Chết. Không có nghĩa là ngày mai chết hay tuần sau chết, cũng không phải sang năm chết. Khi họ chứng quả thánh như thế, nghĩa là có sự chuyển đổi sâu sắc ở thân và tâm, nghĩa là họ đã thoáng thấy Cái Chết ngay nơi thân tâm họ lúc đó. Đó cũng là cái chết của vô lượng nghiệp lực quá khứ. Chúng ta cũng có thể tập được: bất kỳ lúc nào nhớ tới, hãy nghĩ rằng thân tâm mình đang liên tục chết đi trên dòng sông vô thường. Lúc đó, bạn sẽ thấy rằng tất cả tranh cãi vô ích khi bạn đang chết như thế. Bởi vì, người chết thì không mở miệng được và cũng không bận tâm chuyện tranh cãi gì nữa.

Một số nơi khác trong Kinh Phật cũng ghi lời dạy cần tránh tranh cãi. Kinh DN 30, một kinh kể về đức tướng của Đức Phật và về thiện nghiệp của các tiền thân của ngài, khi còn là một vị Bồ Tát. Kinh DN 30 khá dài, có một đoạn nói về sự hoan hỷ trong hòa hợp. Bản dịch của Thầy Minh Châu trích như sau:

Này các Tỷ-kheo, Như Lai trong bất cứ đời trước nào…  trong kiếp làm Người... Ngài sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói lời đưa đến hòa hợp. Do tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi thiện thú, Thiên giới, cõi đời này…”

Thực tế trong đời thường của chúng ta, giữa những trận mưa thông tin của Internet, không chắc gì chúng ta có thể làm dịu các cuộc tranh cãi. Nhưng ít nhất, chúng ta hẳn là cũng có thể bắt chước Đức Phật để bước lui vào góc rừng một thời gian.

Cũng có thể dùng các phương tiện khác nhau của các bộ phái dị biệt để tự mình an tâm mình. Đó cũng là một cách nhìn của truyền thống Phật giáo Việt Nam. Quan điểm này từng dược tổng hợp trong sách Nhị Khóa Hiệp Giải. Dĩ nhiên, mỗi người sẽ ứng dụng khác nhau. Cũng như trong một bữa tiệc, món ăn trên bàn thì rất nhiều, nhưng mỗi người sẽ chỉ tự chọn những gì thích hợp với mình để thọ dụng. Xa xưa hơn nữa, có lẽ Ngài Huyền Trang cũng chủ trương tùy nghi lựa chọn, khi ghi lại bản Bát Nhã Tâm Kinh đã đưa thêm câu thần chú “Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha” vào, cho dù quý tôn túc diễn nghĩa rằng câu thần chú này có nghĩa là “Đã đi qua rồi, đã qua bờ bên kia, đã qua bờ bên kia rồi, hãy an vui.”

Trong bài viết nhan đề “Chân Tâm và Vọng Tâm” trên mạng Thư Viện Hoa Sen, Tỳ kheo Thích Thắng Giải viết: “Khi chúng ta đã thực tập chánh niệm, chánh định và chánh tuệ (hay chánh kiến) thuần thục thì không nên dừng lại ở thành tựu ấy. Bởi vì chánh niệm, chánh định và chánh tuệ (hay chánh kiến) này là hữu lậu – hữu vi thì ngay lúc này chúng ta hãy buông nhẹ chánh niệm và chánh định đang trụ nơi hơi thở, câu niệm Phật hoặc câu trì chú để trực tiếp nhận biết (trí) sự tập khởi của năm uẩn là sắc, cảm thọ, tri giác (tưởng), tâm hành (thiện và bất thiện) và nhận thức – bản chất của chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Đó là chánh tuệ hay chánh kiến vô lậu – vô vi. Đây đích thực là tam pháp ấn mà ba đời chư Phật đã trao truyền.” (ngưng trích)

Trong đoạn văn trên, chúng ta nhận thấy có đủ các bản sắc của nhiều bộ phái. Đó là niệm Phật (hiểu là Tịnh Độ), trì chú (hiểu là Mật Tông), Thiền định và Thiền quán (hơi thở, nhận ra sự tập khởi của năm uẩn, nhận ra tâm hành, nhận ra ba pháp ấn vô thường, khổ, và vô ngã. Như thế, chúng ta có thể hình dung ra một người đang té sông, quơ tay gặp bất kỳ bè tre nào, bè gỗ nào, bè lá nào đều có thể tiện dụng một cách không phân biệt. Trong đoạn văn trên, có một chi tiết cho thấy căn cước của Thiền Tông Việt Nam: “...trực tiếp nhận biết (trí) sự tập khởi của năm uẩn là sắc, cảm thọ, tri giác (tưởng), tâm hành (thiện và bất thiện) và nhận thức.”

Tại sao phải trực tiếp nhận biết? Bởi vì phải không dựa vào lời, phải không dựa vào lý luận. Chư Tổ Việt Nam thường nói rằng: nghĩ ngợi là xa rồi. Khi bạn nhìn lên đám mây trôi, bạn trực tiếp nhận biết là đã xa lìa cả quá khứ (hình mây đã trôi), xa lìa tương lai (hình mây chưa tới), xa lìa hiện tại (vì tức khắc nó đã là hình mây quá khứ). Tương tự, khi bạn trực tiếp nhận biết khi nghe tiếng chim kêu, là bạn đã xa lìa âm thanh của quá khứ, xa lìa âm thanh của tương lai chưa tới và không chắc sẽ tới, xa lìa âm thanh hiện tại vì tức khắc nó đã là quá khứ. Trong cái “trực tiếp nhận biết” không hề có tham, sân, si khởi dậy, vì tất cả tham sân si là sản phẩm của quá khứ, của so đo, của níu kéo, của ưa hay ghét, của muốn hay không muốn...

Trong sách Định Nghiệp Trong Phật Giáo, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu viết trong Chương “15. Thiền Sư Liễu Quán, Chùa Thiền Tôn – Huế” về ngài Liễu Quán. Trích như sau:

Năm Nhâm ngọ (1702) ngài [Liễu Quán] đến Long Sơn đầu sư với Tử Dung Hòa thượng (người sáng lập Ấn Tôn Từ Đàm hiện nay), một vị Hòa thượng có tiếng thông thái khéo dạy người niệm Phật tham Thiền của thời này. Trước khi chấp nhận ngài làm học trò, Hòa thượng Tử Dung đã thử nhiều lần và bắt ngài giải thích câu sau đây: "Muôn pháp quy về một, một về đâu? ". Ngài đã tìm kiếm 8, 9 năm không ra câu giải đáp và đã thất vọng.

Một hôm nhân đọc Truyền Đăng Lục, ngài gặp câu: "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ" (Chỉ vật truyền tâm, chỗ mà người ngoại cuộc không hiểu được), bỗng nhiên ngài thấy đã tìm ra câu giải đáp mà thầy mình đã đặt ra, nhưng vì đường sá xa cách, không thể đến trình chỗ ngộ với thầy ngay được. Năm Mậu tý (1708) ngài đến Long Sơn (Huế) để đệ trình kết quả với câu: "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ". Hòa thượng Tử Dung lại dạy câu: "Đứng ở mé bờ cao vút buông tay, tự mình chịu lấy, chết rồi sống lại, bấy giờ không ai có thể dối người" (Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương, tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc). Ngài vỗ tay cười lớn tiếng. Hòa thượng nói: "Không phải vậy đâu". Ngài liền đọc: "Xứng chùy nguyên thị thiết". (Cái dùi nguyên là sắt). Hòa thượng đáp: "Cũng không phải vậy đâu".

Hôm sau Hòa thượng lại tiếp tục thử ngài bằng câu: "Công án ngày qua chưa giải đáp xong, hãy nói lại xem?" Ngài liền đọc hai câu: Sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi. Hòa thượng tán thán.” (ngưng trích)

Nơi đây, chúng ta chỉ ghi chú một phần thôi. Điều muốn nhấn mạnh rằng, tuy là Thiền Tông (bất lập văn tự, không dựng lập, dựa vào chữ viết, lời nói) nhưng đoạn văn trên cho thấy ngài Tử Dung dạy cả niệm Phật, tham Thiền. Niệm Phật đây có lẽ là Tịnh Độ. Tham Thiền đây hiển nhiên là Thiền Công Án. Nghĩa là, tất cả phương tiện đều là bè khả dụng, dù là bè gỗ, bè tre, bè lá.

Một điểm lý thú là, suốt 8 hay 9 năm chỉ chú tâm vào một câu hỏi, “Muôn pháp quy về một, một về đâu?” Câu này nằm sẵn trong kinh điển rồi, và Đức Phật đã nói trong nhiều kinh. Muôn pháp quy về một tâm. Kinh Pháp Cú ngay mấy bài kệ đầu đã nói thế. Còn nói một sẽ về đâu, mà nói là về đâu cũng sai, vì thực tướng các pháp là vắng lặng, không gọi là Có, và không gọi là Không. Khi nói chết rồi sống lại, chỉ có nghĩa là buông hết thân tâm, thấy tất cả ngũ uẩn (sắc thọ tưởng hành thức) đều là Không, là rỗng rang, là vô tự tánh.

Khi nói “chỉ vật truyền tâm” chỉ có nghĩa là, mượn vật để chỉ ra Tánh Biết. Như trường hợp, có vị tăng hỏi Động Sơn: “Phật là gì?” Động Sơn nói: “Ba cân gai trên vách”.  Chỉ có nghĩa là, cái Biết nhận ra ba cân gai đang treo trên vách.

Có khi vị Thầy nói rõ ràng hơn, khi chỉ vật truyền tâm. Đó là khi ngài Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong tới, liền chỉ vào tịnh bình mà nói: “Tịnh bình là cảnh, ông không nên dính vào cảnh”. Nghĩa là, không nên dính vào cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ chạm xúc, được tư lường.

Thiền sư Trần Thái Tông có sách Công phu Khóa hư cử niêm tụng, sử dụng công án để dạy học trò. Bản dịch của Thầy Nhất Hạnh ghi công án thứ năm là, trích:

Cử: Thế Tôn vừa bước lên pháp tọa, Văn Thù đánh khánh bạch: “Hãy lắng nghe pháp của Pháp Vương: Pháp của Pháp Vương là như thế”.

Niêm: Gẩy khúc Dương Xuân trên chỗ không có tơ đồng, ngàn đời sau âm thanh mãi còn bất tuyệt.” (ngưng trích)

Nghĩa là, Văn Thù chỉ vào tiếng khánh (chỉ vật) và bảo hãy lắng nghe (truyền tâm) để nhận ra Tánh Biết, nơi vốn thực xa lìa tất cả tham sân si, xa lìa cả quá khứ, vị lai, hiện tại. Khi nói “chỗ không có tơ đồng” chỉ muốn nói là đàn không dây, vì có dây hay không dây cũng không dính gì tới cái nhận biết trực tiếp này của nghe. Và nơi đó, âm thanh “mãi còn bất tuyệt” vì Cái Biết không biến mất sau khi âm thanh biến mất. Thiền Tông là tu nơi như thế.

Và trong cái Biết của tâm xa lìa tham sân si này, vốn không hề có bộ phái. Gọi là Thiền Tông cũng là tạm gọi thôi. Thì lấy gì mà tranh cãi.




THAM KHẢO:

-- Kinh Sn 4.13: Anh dịch: https://suttacentral.net/snp4.13/en/mills

Việt dịch: https://thuvienhoasen.org/a30606/sn-4-13-mahaviyuha-sutta-dai-kinh-ve-tranh-cai

-- Kinh Pháp Cú, bài Kệ 06:

https://www.tipitaka.net/tipitaka/dhp/verseload.php?verse=006

-- Kinh DN 30, Thầy Minh Châu dịch:

https://suttacentral.net/dn30/vi/minh_chau

-- Thích Thắng Giải. Chân Tâm và Vọng Tâm:

https://thuvienhoasen.org/a33923/chan-tam-va-vong-tam

-- Thích Thiện Siêu. Định Nghiệp trong Phật giáo. Chương 15: Thiền sư Liễu Quán:

https://thuvienhoasen.org/a6431/15-thien-su-lieu-quan-chua-thien-ton-hue

-- Thích Nhất Hạnh. Bốn Mươi Ba Công Án Của Trần Thái Tông:

https://thuvienhoasen.org/a7554/bon-muoi-ba-cong-an-cua-tran-thai-tong

.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/11/2017(Xem: 8774)
Chris Impey là Phó Khoa Trưởng của Đại Học Khoa Học, và là một Giáo Sư Xuất Chúng của Khoa Thiên Văn Học thuộc Đại học Arizona (Hoa Kỳ). Công trình nghiên cứu của ông đặt trọng tâm vào việc phát triển và cung cấp năng lượng của những lỗ đen khổng lồ trong các thiên hà.Ông đã viết hai cuốn sách giáo khoa, một tiểu thuyết, tám cuốn sách khoa học phổ thông, và hơn 250 bài nghiên cứu và bài báo.Khiêm Tốn TrướcHư Không(Humble Before the Void ), một cuốn sách dựa trên những khóa hội thảo được mô tả trong bài báo này, do Templeton Press xuất bản năm 2014
01/11/2017(Xem: 16961)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn[2] nên trong các hình tượng bồ tát chỉ có tượng của ngài duy nhất được tạc vẽ với nhục kế (uṣṇīṣa), vốn tượng trưng cho trí tuệ viên mãn như hình tượng Đức Phật chúng ta thường thấy. Truyền thống Phật giáo xuy tôn ngài là người thành lập Phật giáo Đại thừa không phải vì theo truyền thuyết nói rằng ngài đã mang kinh điển Đại thừa từ Long Cung về phổ biến mà vì ảnh hưởng thật sự tư tưởng của ngài trong các tông môn. Cho đến ngày nay, tám tông môn Phật giáo lớn từ Thiền đến Mật của Trung Hoa Triều Tiên Nhật Bản Tây Tạng Mông Cổ nhận ngài là tổ đều truyền bá đến Việt Nam từ lâu. Ở nhiều nước như Tây Tạng, Nepan, Mông Cổ chùa viện tư gia còn đắp tượng vẽ hình thờ phượng ngài như Đức Phật. Ngay tại Ấn Độ, đất nước đã tiêu diệt Phật giáo, người ta vẫn còn tiếp tục hãnh diện phổ biến các nghiên cứu về ngài và tôn kính ng
25/08/2017(Xem: 30034)
Bản Giác (sách pdf) tác giả: Tiến sĩ Lâm Như Tạng
21/06/2017(Xem: 11009)
* Trong vũ trụ có trùng trùng thế giới. Toàn Giác là bậc câu thông cùng vũ trụ, họ cùng một thể tánh với vũ trụ, thấu suốt quy luật vận hành của vũ trụ rồi “truyền thần” lại sự thấy biết đó. Để thấy rằng Đức Bổn sư không sáng tạo ra vũ trụ, không chế định ra luật nhân quả luân hồi, mà vũ trụ vốn sống động từ vô thỉ dù Phật có ra đời hay không.
25/04/2017(Xem: 13126)
Đức Phật đôi khi có đề cập tới tính chất và các thành phần của vũ trụ. Theo Ngài, có nhiều hình thức đời sống hiện hữu ở các nơi khác trong vũ trụ. Với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học ngày nay, có lẽ không bao lâu nữa chúng ta sẽ khám phá ra các loài sinh vật khác đang sống ở các hành tinh xa nhất trong dãi thiên hà của chúng ta. Có thể các chúng sanh nầy sống trong những điều kiện và qui luật vật chất khác, hay giống như chúng ta. Họ có thể hoàn toàn khác chúng ta về hình thể, thành phần và cấu tạo hoá học
24/04/2017(Xem: 19269)
Lời giới thiệu: Chúng tôi viết quyển sách này với mong muốn được trình bày theo cái hiểu và suy nghĩ của riêng mình. Kính mong rằng các bậc cao Tăng thạc đức niềm tình tha thứ nếu có chỗ nào sai xót. Chúng con hàng hậu học, vừa học, vừa tu vừa hướng dẫn lấy Kinh luật luận làm nền tảng. Trước tiên, chúng ta cần phải hiểu biết rõ ràng về Phật giáo và ứng dụng lời Phật dạy trong đời sống hằng ngày. Chuyển nghiệp là quá trình nỗ lực làm cho phàm tính trong con người trở thành Thánh tính của bậc hiền.
18/04/2017(Xem: 10236)
Hai năm về trước, ngẫu nhiên đọc được bài diễn văn ‘Giá Trị của Khoa Học’ (The Value of Science) bởi Dr. Richard Feynman, Mùa Thu, 1955, (in Volume XIX, ENGINEERING AND SCIENCE, December 1955) rất nổi danh ở trên internet nhưng lúc đó tôi chưa đủ trình độ để hiểu nổi cái trí tuệ thậm thâm viên diệu của ông ta dù lúc đó tôi cảm thấy rất hấp dẫn.
18/04/2017(Xem: 9150)
Bài viết này được trình bày qua công trình nghiên cứu, suy luận, tham khảo, sáng tác và phóng dịch từ những nguồn gốc tài liệu giá trị bởi những khối óc vĩ đại của các khoa học gia Tây Phương cũng như của những cao tăng và những thiện tri thức, đã được tôi tư duy hóa, đồng cảm hóa, và Phật Giáo hóa để chứng minh vài công án nan giải của khoa học. Nó được xem như là một phương tiện trí tuệ của Phật Thừa để giải thích những gì khoa học hiện đại chưa thể vượt qua được.
17/04/2017(Xem: 7531)
Đa số chúng ta, ít ra đã có một lần, từng đọc qua lời tuyên bố nổi danh của nhà bác học Albert Einstein, tôi xin dịch lại cho sát ‘ý của Einstein từ Tây sang.’ “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của vũ trụ. Nó cao cả hơn một thượng đế nhân tạo và loại bỏ những giáo điều và thần học. Bao gồm cả thực tại và tâm linh, nó nên được đặt trên nền tảng của một tôn giáo trí tuệ, vượt trên tất cả những kinh nghiệm của hiện tại, tự tánh và Tâm Thức, đầy ý nghĩa ‘Đồng Nhất Thể.’ Phật Giáo đáp ứng được công án này. “The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description.” Albert Einsteinle
23/03/2017(Xem: 15826)
Thực tại, nghĩa là nơi chốn, chỗ, vị trí, cũng có tên không gian. Không gian, nói một cách tổng thể, là bề mặt của vũ trụ từ bao la, rộng lớn, cho đến hạn hẹp đối với mỗi con người chúng ta đang có mặt ở một nơi nào đó, như tại : Núi cao, thác ghềnh, quán cà phê, phòng làm việc, phòng ngủ, phòng ăn, sân chùa,