Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Khái Quát về chữ "Không" trong Tâm Kinh Bát Nhã

18/06/201519:54(Xem: 4120)
Khái Quát về chữ "Không" trong Tâm Kinh Bát Nhã
Buddha_2

Khái Quát v
ề chữ "Không"  trong Tâm Kinh Bát Nhã
 

Lời nói đầu:

Bài viết này chỉ là ghi nhận khái quát nhằm tri ân và phần nào báo đáp thâm ân giáo hóa của chư tôn đức, chư thiện tri thức. Nó còn nặng về tính cách tổng hợp và cảm nhận chủ quan nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, sai lạc.  Kính mong các bậc cao minh bổ chính và chỉ giáo giúp. Thành kính tri ân và trân trọng cảm tạ.

 

 

 Bài Tâm Kinh Bát Nhã có tất cả 7 chữ 'Không" trong đó chữ "Không Tướng"  đã được  đề cập, ngay ở câu văn thứ ba: "Xá Lợi Tử! Thị chư pháp Không Tướng..."(Xá Lợi Tử ! Tướng Không của các pháp...). Nếu hiểu 'chư pháp' (các pháp) ở đây chính là các pháp đã vừa được nêu ra ở câu văn thứ nhì ("Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị") thì các pháp này chính là Ngũ Uẩn pháp và chính câu văn kinh thứ nhì này đã khai thị về Không Tướng (và cả Không Thể) của Ngũ Uẩn.

Ngũ Uẩn  bao hàm 5 yếu tố cấu thành con người cùng tất cả sinh hoạt nơi sự sống con người là Sắc (thân thể thất đại với địa thủy hỏa phong không kiến thức), Thọ (cảm giác, cảm thọ khi căn và cảnh tiếp xúc nhau, nghĩa là khi  sắc thân  thất đại tiếp xúc với hoàn cảnh bên ngoài là lục trần bao gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), Tưởng (ấn tượng đầu tiên được hình thành do sự tiếp nối theo Thọ, đây chính là suy tư vừa chớm khởi sự), Hành (suy tư được trưởng dưỡng với tính toán, so đo, phân biệt kết thành dòng chảy liên tục của Tưởng), và Thức(sản phẩm cuối của Hành, kết thành chủng tử đặc sắc nơi tâm thức của mỗi người). Năm pháp Ngũ Uẩn này cũng được xem như tượng trưng cho 100 pháp Đại Thừa (Đại Thừa Bách Pháp) và do đó, Ngũ Uần cũng tượng trưng cho vạn pháp trong vũ trụ nhân sinh.

Chữ "Không" được nêu trong đoạn văn kinh trên không có nghĩa là cái rỗng không, ngoan không (như lông rùa, sừng thỏ), mà chính là Chơn Không với ý nghĩa 'Chơn Không Diệu Hữu'. Chơn Không đây còn được gọi tên là Chơn Tâm (kinh Thủ Lăng Nghiêm : "Chơn Tâm Thường Trú"),Phật Tri Kiến (kinh Pháp Hoa), Phật Tánh (kinh Đại Bát Niết Bàn), Như Lai Viên Giác Diệu Tâm (kinh Viên Giác), Như Lai Tàng Bản Thể hoặc Như Lai Tàng Tâm (kinh Thủ Lăng Nghiêm), "Nhứt Pháp Giới Đại Tổng Tướng Pháp Môn Thể" (Đại Thừa Khởi Tín Luận), Chơn Như (Đại Thừa Khởi Tín Luận), Chơn Như Vô Vi (một trong sáu pháp Vô Vi trong Duy Thức Học), Đệ Bát thức hay A Lại Da Thức hay A Đà Na thức... (Duy Thức Học)...

  Tổ Mã Minh nơi Đại Thừa Khởi Tín Luận, đã khai thị về Như Lai Tàng như sau: "Do Như Lai Tàng (chơn) mà có "Tâm Sanh Diệt"; nghĩa là Chơn (không sanh diệt)và Vọng (sanh diệt) hòa hiệp, không phải một, không phải khác gọi là thức A Lại Da (tâm sanh diệt). Thức này tóm thu tất cả các pháp và xuất sanh tất cả các pháp. Thức này có hai nghĩa Giác và Bất Giác (mê)"... "Như Lai Tàng được giải thích là chỉ cho cái "Tổng Tướng" của tâm, đây là tướng của nhứt tâm nên tuy nó cũng chơn tịnh, nhưng vì có phiền não che khuất, nên làm nhơn cho động".

Do vậy, Như Lai Tàng  có hai nghĩa là (1) Như Lai Xuất Triền có nghĩa là Phật Tánh thanh tịnh và (2) Như Lai Tại Triền có nghĩa Phật Tánh còn bị vướng mắc nhiễm ô phiền não. Chơn Như được giải thích là chỉ cho cái 'Tổng Thể" của tâm, đây là thể của 'nhứt tâm" nên thanh tịnh, không động.  A Lại Da thức được giải thích là chỉ cho cái "Thể, Tướng, và Dụng" về  nhiễm và tịnh hòa hiệp của tâm.

Nếu xác định các phạm trù ý nghĩa như trên, ta có thể thấy ra thể của "Không ("Không Thể") và tướng của "Không" ("Không Tướng") của các pháp đã được Tâm Kinh trực tiếp diễn bày  qua 24 chữ ở câu kinh văn:" Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Thọ Tưởng Hành Thức diệc phục như thị" hoặc đầy đủ hơn với 80 chữ: "Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc; Thọ bất dị Không, Không bất dị Thọ, Thọ tức thị Không, Không tức thị Thọ; Tưởng bất dị Không, Không bất dị Tưởng, Tưởng tức thị Không, Không tức thị Tưởng; Hành bất dị Không, Không bất dị Hành, Hành tức thị Không, Không tức thị Hành; Thức bất dị Không, Không bất dị Thức, Thức tức thị Không, Không tức thị Thức". Như thế, "Không Thể" chính là thể của Như Lai Tàng bao gồm có "Sắc" (tượng trưng và bao gồm tất cả hiện tượng từ Thất Đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, và cả từ  'Tứ Khoa ': 5 ấm, 6 nhập, 12 xứ, 18 giới) và "Không" (Như Lai Tàng bản thể thanh tịnh) tương ưng hòa hiệp, vận động qua lại với nhau một cách huyền nhiệm, bất khả tư nghì. Sự vận động qua lại bất tư nghì, tương ưng  hòa hiệp nhiệm mầu giữa "Sắc" và "Không" này tạo ra "Không Tướng".

Sự vận động qua lại bất tư nghì này đã được khai thị rõ nét qua kinh Thủ Lăng Nghiêm như sau: "Tánh Sắc chơn Không, Tánh Không chơn Sắc, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện".

Như thế "Không Tướng"  không phải là 'không có tướng' qua cách nhìn của Tục Đế (phàm phu với nhục nhãn thông thường) mà chính là tướng của Như  Lai Tàng bản thể qua cái thấy của Đạo Đế (thánh nhân với huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn). Qua cái thấy của Đạo Đế,các sự vật có tướng tưởng như là "tướng nhất định" (tướng có thể xác định qua dạng thể, kích thước, màu sắc) đều chỉ là các pháp tạm có rồi không, pháp sanh diệt, pháp như huyễn, pháp hữu vi . Kinh Kim Cang đã khẳng định "Phàm cái gì có tướng đều là hư dối, nếu thấy rõ các tướng chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai" và về các bản chất vô thường, khổ, không, vô ngã của chúng : "Nhứt thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bọt bóng, Như sương và như chớp, Nên quán sát như thế".  Do đây kinh Kim Cang đã có cách hành văn : "Thuyết... tức phi... thị danh..." (tạm dịch nôm na là : "Nói vậy... mà không phải vậy...chỉ tạm gọi tên là vậy") vô cùng đặc sắc và kỳ thú để khai thị về phương cách hàng phục và an trụ tâm thức.

  "Không Tướng" là tướng của pháp Vô Vi Như Lai Tàng bản thể nên ‘Không Tướng’ không có tướng nhất định (như như chẳng động) như ở nơi các pháp Hữu Vi. Và dù Như Lai Tàng không có tướng nhất định mà nó lại có đầy đủ tất cả các tướng qua sự vận động, chuyển hóa qua lại linh diệu cùng khắp và không dừng nghỉ của chính nó. Như Lai Tàng chính là bản thể thâm diệu nhất, là sanh khí, là mạch sống bản nguyên, là sức sống hồn nhiên vô thỉ vô chung, vô tác nhậm vận của vũ trụ vạn hữu, pháp giới chúng sinh. Từ Như Lai Tàng bản thể, tất cả hiện tượng vạn hữu được duyên sanh (Y tha duyên nhi sanh khởi tánh theo Duy Thức học) theo qui luật "Tùy Duyên Bất Biến, Bất Biến Tùy Duyên". Đây cũng được gọi là "Thực Tướng"  của các pháp. Thực Tướng này thường được minh giải qua câu " Thực Tướng chính là Vô Tướng". Chính vì thế, Như Lai Tàng rời tất cả tướng mà lại hiện ra tất cả pháp, nơi Như Lai Tàng không có vấn đề "Là " hay "Không Là", theo qui luật "bất tức bất ly"  giống như sự liên hệ giữa sóng và nước, giữa bản thể (Như Lai Tàng "Không") và hiện tượng("Sắc" của 4 khoa và 7 đại nơi kinh Thủ Lăng Nghiêm). Nói cách khác, Như Lai Tàng có sự tương dung, tương nhiếp, tương ưng, tương hợp với Ngũ Uẩn mà nó lại không là Ngũ Uẩn.  Bản thể Như Lai Tàng luôn thanh tịnh mà lại thường chiếu soi (tịch mà chiếu) đầy đủ tất cả sự vật mà nói theo ngôn ngữ nhà Thiền là "Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán". Đây là sự biến đổi qua lại một cách tự nhiên và nhiệm mầu,kỳ ảo giữa Bản Thể (tịch tịnh, rỗng lặng) và Hiện Tượng (tỉnh sáng, chiếu soi liên tục,thường trực đầy đủ muôn cảnh, muôn vật không bỏ sót một thứ gì). Như mặt gương trong sáng tự nhiên hiện ra nơi nó đầy đủ mọi thứ sắc tướng mà nó tiếp xúc. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật đã khai thị cho ngài Phú Lâu Na về tánh sáng tỏ này khi ngài hỏi tại sao Như Lai Tàng thanh tịnh mà bỗng nhiên sanh khởi ra các tướng hữu vi : "Nếu ngươi phát minh cái hư không thì hư không hiện ra. Địa thủy hỏa phong mỗi mỗi phát minh thì mỗi mỗi hiện ra. Nếu cùng phát minh thì cùng hiện ra".

Không Thể, Không Tướng vừa được đề cập trên là sự biểu hiện của cái tiềm ẩn hơn, gốc rễ ở nơi thâm sâu hơn trong tâm thức được gọi là Không Tánh. Tướng, Thể  và Tánh chỉ là các khía cạnh (phương diện) của cùng bất cứ sự vật gì được xem xét. Nên bất cứ sự vật gì, nếu đã nói đến Thể,Tướng thì cũng cần nói đến Tánh để trọn nghĩa.

Do vậy, ngay sau đoạn kinh văn đề cập đến Không Thể và Không Tướng nêu trên, bài Tâm Kinh Bát Nhã đề cập ngay đến Không Tánh đươc diễn tả  qua 6 cái "Bất" về sanh diệt, nhơ sạch, thêm bớt : "Xá Lợi Tử, thị chư pháp Không tướng,bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm". Lục Tổ khi ngộ đạo nơi Ngũ Tổ đã thốt lên 5 cái đâu ngờ về Tự Tánh Không và về các cái'bất'  này: "Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh. Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt. Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ. Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động. Đâu ngờ tự tánh hay sinh muôn pháp ". Ý nghĩa về 'bất sanh, bất diệt" gắn bó khắn khít với ý nghĩa "thường trú" của Chơn Tâm nơi kinh Thủ Lăng Nghiêm. Ý nghĩa về 'thường trú' này được kinh chỉ rõ là tính cách sẵn có của Chơn Tâm, được tự thể hiện sau khi các ngoại duyên hữu vi sanh diệt bên ngoài Chơn Tâm  được gạn lọc ra. Đây chính là "vật không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không sau lưng, không trước măt..." mà Lục Tổ nhắc đến.  Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn khai thị chi tiết hơn về Chơn Tánh của tứ khoa (bao gồm ngũ uẩn, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới)và thất đại (bao gồm địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức) đều vốn từ  Như Lai Tàng bản thể lưu xuất, hiện khởi ra chứ chúng thật không có tự tánh, tự ngã hay thực thể cố định nào. Như khai thị về Tánh của Sắc (Địa Đại), kinh Thủ Lăng Nghiêm có đoạn như sau: "Tánh Sắc chơn Không, Tánh Không chơn Sắc, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện". Đây là lý Vô Sanh (không tự sanh, không tha sanh, không cọng sanh, không vô nhân sanh) của hiện tượng vật chất. Tánh của các đại còn lại, kinh Thủ Lăng Nghiêm cũng khai thị tương tợ. Do vậy, vạn pháp hiện tượng đã được khai thị là "Phi nhân duyên, phi tự nhiên, phi hòa, phi hợp";  vạn pháp là "Như Thị" với 10 món Như Thị là: Như thị(-) Tướng,- Tánh,- Thể, -Lực,-Tác,-Nhơn,-Duyên,-Quả, Báo,- Bổn Mạt Cứu Cánh.

Các vị Bồ Tát có năng lực quán chiếu thấu suốt được Ngũ Uẩn, đưa Ngũ Uẩn về vị trí bản nguyên 'Tự Tại". Đây là vị trí của "Không Thể", "Không Tướng" và "Không Tánh" nhiệm mầu của Như Lai Tàng Bản Thể, và đây là các vị đã vượt thoát được mọi sự khổ ách. Như câu kinh văn đầu tiên của bài tâm kinh đã nêu: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách". Chổ bản nguyên này không có ngôn ngữ, văn tự thế gian nào có thể diễn đạt đúng mức và đầy đủ được. Như qua bài kệ của Tổ Mã Minh: "Nhất thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly danh tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng,tất cánh bình đẳng, duy thị nhất tâm, bất khả phá hoại, cố danh Chân Như". Chổ không thể diễn bày này cũng được kinh Giải Thâm Mật nhắc đến qua bài kệ:

"A Đà Na thức thậm thâm tế

Tập khí chủng tử như bộc lưu

Ngã ư phàm phu bất khả diễn

Khủng bỉ phân biệt chấp vi ngã"

(Tạm dịch: Thức A Dà Na quá sâu xa vi tế, Tập khí chủng tử như dòng thác, Ta không đành nói ra với phàm phu, Lo là họ phân biệt chấp làm ngã).

Vượt thoát ra mọi ràng buộc, khổ đau, sinh tử, luân hồi chính là cái Dụng của tâm thể Như Lai Tàng thanh tịnh. Chính cái Dụng quá nhiệm mầu này là cái vượt lên trên mọi sự vật, cảnh giới của thế gian và của cả xuất thế gian. Nghĩa là vượt qua các địa vị phàm thánh, vượt qua tất cả các "thừa", từ Thanh Văn thừa đến Duyên Giác thừa và cả Bồ Tát thừa. Do vậy, tâm kinh đã khai triển tiếp tục là ở nơi cái "Không" (Như Lai Tàng thanh tịnh) này một loạt cái "Không Có" ("Vô") về ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, pháp Thập Nhị Nhân Duyên ( Vô Minh- Hành- Thức- Danh Sắc- Lục Nhập- Xúc- Thọ- Ái _ Thủ- Hữu- Sanh _ Lão Tử của Duyên Giác thừa), pháp Tứ Đế ( Khổ- Tập- Diệt- Đạo của Thanh Văn thừa), và cả pháp Lục Độ (Bố thí- Trì Giới- Nhẫn nhục- Tinh Tấn- Thiền Định- Trí Huệ của Bồ Tát thừa) : "Thị cố Không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô Vô Minh diệc vô Vô Minh tận, nãi chí vô Lão Tử diệc vô Lão Tử tận; vô Trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố". Đây là cảnh giới mà tên gọi Đại Bát Nhã Đáo Bỉ Ngạn (Ma ha Bát Nhã Ba La Mật) đã được Lục Tổ khai thị hiển bày nghĩa lý trong Pháp Bảo Đàn kinh. Câu hỏi của tổ Động Sơn Lương Giới về Tâm Kinh (khi ngài còn là sa di đã thưa với thầy của ngài : "Con có mắt...mà tại sao Tâm Kinh lại nói là không có?") như vậy cũng đã được Tâm Kinh trả lời trong ý nghĩa này.

Sau cùng, cái Dụng thù thắng rốt ráo của Như Lai Tàng thanh tịnh được Tâm Kinh đề cập qua cảnh giới của Bồ Tát và của chư Phật đã sống thành tựu trọn vẹn nơi Bát Nhã Ba La Mật của Như Lai Tàng thanh tịnh: "Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề". Nơi đây không còn bóng dáng của ngữ ngôn, văn tự, tình thức phân biệt chấp ngã, chấp pháp nữa. Nếu có muốn biết về nó và muốn diễn đạt nó, chỉ tạm dùng phương tiện qua dạng "ngữ ngôn phi ngữ ngôn" là câu thần chú: "Cố tri Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thực bất hư. Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú tức thuyết chú viết : Yết đế Yết đế Ba La Yết đế Ba La Tăng Yết đế Bồ Đề Tát Bà Ha".  

Với vỏn vẹn 265 chữ kể cả tựa đề, bài Tâm Kinh Bát Nhã là một kết tinh trọn vẹn cô đọng những tinh yếu, thắng nghĩa của Phật đạo với  chữ "Không" được dùng với ý nghĩa vô cùng sâu sắc, vi tế, huyền nhiệm  qua đầy đủ bốn phương diện của "Không" là Thể, Tướng, Tánh, và Dụng của Như Lai Tàng bản thể. Phân biện về Tướng- Thể- Tánh- Dụng của Như Lai Tàng chỉ là phương tiện tạm nói, không thể chính xác rốt ráo được. Vì đây thuộc về cảnh giới "Bất Nhị" dứt tuyệt mọi phân biệt, tư duy, chấp trước. Tựu trung, bài Tâm Kinh ngắn ngủi đã hé mở ra  phương cách chấm dứt mọi ràng buộc,luân hồi sanh tử, ưu bi khổ não , chiếu ngời lên ánh sáng của cứu cánh giải thoát trên con đường tu học Phật đạo vậy .

 

                                         Quảng Minh LKH

                                         Plano _ May 25, 2015
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/11/201909:13(Xem: 2770)
Nam mô ADIĐÀ PHẬT , xin Thầy giải thích thắc mắc của con từ lâu : “ Nam mô Tam Châu Cảm Ứng Di Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát “: 1- Tại sao Tam Châu mà không là Tứ Châu ? 2- Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát có phải là Vị Bồ Tát đứng chung với Ngài Tiêu Diện BT ở bàn thờ trước hall mà khi chúng con mới vào chùa QDT dẫn đến và nói : cô chú khi mới vào chùa đến xá chào 2 Vị BT này ( check in ) trước khi ra về cũng đến xá chào ( check out).Xin Thầy nói về tiểu sử của 2 Vị BT ( 2 security officers) mà Phật đã bổ nhiệm xuống cho mỗi chùa .Xin mang ơn Thầy 🙏
08/11/201920:14(Xem: 2902)
Thanh Từ Thiền Sư, tuyên ngôn như thế, lời vàng đanh thép, lý tưởng cao siêu, muôn đời bất diệt. Phật Giáo Dân Tộc, đồng hành muôn thuở, tuy hai mà một, bền lòng sắc son, nẻo đạo thanh cao, đường đời rộng mở. Ông Dương Ngọc Dũng, mang danh tiến sĩ, học vị giáo sư, nói năng như khỉ, hành vị đáng khinh, giảng đường đại học, kỳ thị tôn giáo, nói xàm nói láo, xúc phạm Phật giáo, bôi nhọ Tăng Ni.
03/09/201907:12(Xem: 1696)
Hiện tình quốc tế và đất nước đang diễn biến dồn dập hơn bao giờ hết. Khi chính quyền các quốc gia và định chế quốc tế tỏ ra không đủ khả năng để ứng phó trước nguy cơ chiến tranh có thể bộc phát, thì một chủ đề đạo đức tôn giáo cần được thảo luận: Phật giáo có biện minh nào cho chính nghĩa trong cuộc chiến tương lai không?
29/08/201920:49(Xem: 1938)
Trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca còn tại thế, nhất là thời giới luật chưa được chế định, 12 năm đầu tiên sau khi Ngài thành đạo, có nhiều tỷ kheo hay cư sĩ đã liễu ngộ, giải thoát, niết bàn chỉ ngay sau một thời thuyết pháp hay một bài kệ của Tôn Sư. Tại sao họ đặt gánh nặng xuống một cách dễ dàng như vậy? Bởi vì họ đã thấu hiếu tận gốc rễ (liễu ngộ) chân đế, tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ, chẳng động, chẳng khởi, chẳng sanh, chẳng diệt, không đến cũng không đi mà thường sáng soi. Khi họ thấu hiểu được vậy. Kể từ lúc đó, họ tín thọ và sống theo sự hiểu biết chơn chánh này. Họ luôn tuệ tri tất cả các pháp đều huyễn hoặc, vô tự tánh cho nên, họ không chấp thủ một pháp nào và thong dong tự tại trong tất cả các pháp.
22/08/201909:25(Xem: 2344)
Phát Bồ đề Tâm là một pháp môn tu, nếu không hơn thì bằng chứ không kém một pháp môn nào trong tam tạng, bởi nó nói lên được cứu cánh của việc tu hành. Trong kinh Đại Phương Tiện, Phật dạy A Nan: “Phát Bồ Đề Tâm là pháp môn thù thắng giúp hành giả rút ngắn tiến trình tu tập của mình”. Trong kinh Hoa Nghiêm Phật lại ân cần nhắc nhở: “Kẻ chỉ quên việc phát Bồ Đề Tâm thì việc làm Phật sự là đang làm ma sự” huống hồ là kẻ tâm không phát, nguyện không lập.
16/08/201911:44(Xem: 2166)
Đức Phật là đấng đạo sư, là bậc thầy của nhân loại, nhưng ngài cũng là nhà luận lý phân tích, nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại. Kinh tạng Pāli cho chúng ta thấy rõ về các phương phápgiảng dạy của đức Phật một cách chi tiết. Tùy theo từng đối tượng nghe pháp mà Ngài có phương thức truyền đạt khác nhau. Chúng sanh có vô lượng trần lao, phiền não, thì Phật pháp có vô lượng pháp môn tu. Nếu sử dụng đúng phương pháp thì hiệu quả giảng dạy sẽ đạt được kết quả tốt. Tri thứcPhật học là nguồn tri thức minh triết, là giáo lý để thực hành, lối sống, do đó phương pháp giảng dạy là vấn đề vô cùng cần thiết để giới thiệu nguồn tri thức minh triết ấy.
05/06/201919:33(Xem: 4157)
Niệm Định Tuệ Hữu Lậu & Niệm Định Tuệ Vô Lậu Phật Đản 2019 – Phật lịch 2563 Tỳ kheo Thích Thắng Giải , Ngôn ngữ là một phương tiện để diễn tả đạo lý, nhưng thể thật của đạo thì vượt ra ngoài ngôn ngữ và tất cả ý niệm. Vì vậy, một khi chúng ta liễu tri được nghĩa chân thật của đạo thì lúc đó sẽ thấu tỏ được sự diệu dụng của phương tiện ngôn ngữ. Nếu xét về nghĩa thật của đạo, đó chính là chân tâm không sinh diệt hay chánh kiến vô lậu.
27/05/201906:01(Xem: 1338)
Tác giả William Edelglass là tân giám đốc về nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Học Barre và là giáo sư triết học và môi trường tại Trường Cao Đẳng Marlboro College tại tiểu bang Vermont. Công việc của ông đã đưa ông tới Dharamsala, Ấn Độ, nơi ông dạy cả triết học Tây Phương cho chư tăng Tây Tạng tại Học Viện Institute of Buddhist Dialectics và triết lý Phật Giáo cho các sinh viên đại học Mỹ về chương trình nghiên cứu Tây Tạng. Bài này trích dịch từ Quý San năm 2019 có chủ đề “Buddhadharma: The Practitioner’s Quarterly,” đăng ngày 14 tháng 5 năm 2019 trên trang mạng Lion’s Roar.
02/05/201908:16(Xem: 1622)
Vì thương xót hết thảy hữu tình phải chịu phiền não, đau thương do tham ái mà bị trôi dài trong bể khổ sinh tử luân hồi, Đức Phật hiện ra ở đời để lại cho thế gian vô số pháp môn tu tập, tùy theo căn cơ, sở trường và hoàn cảnh của mỗi chúng sanh mà chọn lựa pháp hành thích ứng để tu tập nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau thành an lạc, giải thoát, niết bàn. Chư pháp của Thế Tôn được ví như những thang thuốc tùy bệnh mà bốc thuốc. Trong số đó, Tuệ quán vô thường, khổ và vô ngã của tất cả pháp, qua đó hành giả quán tánh ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly của tất cả pháp, là pháp “tối thượng” và vi diệu ‘nhất’ vì nếu hành giả thường xuyên hành trì sẽ ‘chứng đạt’ Tuệ Giải Thoát, vị ấy sẽ đoạn tận mọi kiết sử, không còn khổ đau, phạm hạnh đã thành, chánh trì giải thoát, là bậc A-La-Hán.
24/04/201918:09(Xem: 1282)
Cuộc sống, nhìn quanh đâu cũng thấy Thật. Bạo động cũng có thật, giả dối cũng là thật, tham dục cũng hiện hữu thật,sợ hải cũng có thật ,nhiếp phục uế trược cám dỗ cũng thật, tài sản, vợ con, tình yêu, danh vọng, địa vị …đều thật hết. Chính cái Thật đó mà khổ đau phát sanh cũng là Thật.