Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ba nền tảng giáo dục trong Đạo Phật

01/02/201704:39(Xem: 855)
Ba nền tảng giáo dục trong Đạo Phật


hoasen3


BA NỀN TẢNG GIÁO DỤC TRONG ĐẠO PHẬT

(Ý giáo, Khẩu giáo và Thân giáo)

Đức Hạnh

 

 A-Định nghĩa : Ý GIÁO

Một số tư tưởng Phật học sau đây cùng nói lên nghĩa của Ý Giáo : Ý tưởng mong muốn đem giáo Pháp giải thoát của Phật ra, giảng dạy cho mọi người được biết mà tu tập. Tâm thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa Phật pháp. Tự mình làm thầy lấy mình để sửa tâm. Tự mình thắp đuốc lên mà đi. Hành giả vào đạo Phật để tìm con đường giải thoát, phải học Phật. Là Tăng bảo trong Phật giáo phải học kinh, luật, luận. Muốn biết lý lẽ thế gian tức thị phật pháp, phải học Phật pháp. Tâm biết được những thứ đạo thiện, đạo ác, phải học Phật. Muốn thành Phật, Bồ Tát, các bậc Thánh, phải học và tu tập Phật pháp. Muốn nói Phật Pháp đúng khế lý, phải uyên thâm Phật học. Tâm giác ngộ, là chất liệu kiến tạo pháp thân. Trước khi làm việc gì, phải đem tâm tư duy, quán xét kỹ, rồi mới thi hành đúng với câu ngạn ngữ : “Phàm làm việc gì phải nghĩ đến kết quả của nó”. Tâm thông đạt Phật pháp là một đại đăng, soi đường cho thế gian được sáng.

   B- Tóm lại. Ý giáo là thông đạt kinh điển, tự tu, tự giác ngộ, là nền tảng giáo dục cho pháp giới chúng sanh (giác tha) bằng Khẩu giáo. Chư Tăng, Ni là người thầy nói pháp giải thoát chúng sanh, ai cũng phải đạt được Ý giáo. Không có ý giáo, không thể có khẩu giáo. Quy luật này được có trong Tăng đoàn của Phật từ ngàn xưa và Tăng đoàn ngày nay vẫn tri hành đúng không khác. Người viết đề tài trên, mục đích để cho Phật tử tại gia được biết. Nếu ai phát nguyện hoằng hóa độ sanh, phải thông đạt khế lý Phật pháp, thì mới hành động độ tha đúng chánh đạo.

   I- Ý giáo của Phật.

Như hai lần phật nói lời xác định : 1-“Ta vốn ở tại cõi Ta bà trong vô lượng kiếp, chứ không phải vừa mới sanh ra tại vườn Lâm Tỳ Ni- Nước Ca Tỳ La Vệ”. 2- “Chính Ta đã thành Phật từ vô lượng kiếp, chứ không phải mới khuya hôm nào dưới cội Bồ Đề”.

   Đúng như tam minh : Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, và Lậu tận minh được hiện hữu trong tâm của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đang ngồi dưới cội Bồ Đề khuya mồng Tám Tháng Mười Hai, cách nay 26 thế kỷ. Và sau đó Phật rời khỏi cội Bồ Đề, đi về phía Vườn Nai. Tại đây, Phật đã nói hai bài pháp Tứ đế cho năm anh em Kiều Trần Như trong giờ phút đầu tiên và bài phá Vô ngã tưởng sau đó không lâu. Rồi liên tiếp nói năm thời Pháp với hằng ngàn bài pháp có đề tài khác nhau có nội dung siêu lý luận, Nhân đạo, Thiên đạo hiện thực lý giải thoát cho Tăng đoàn và các giới Cư Sĩ suốt 45 năm như vậy. Thử hỏi, Đức Thế Tôn của Ta lấy đâu ra hằng ngàn bài pháp, lời kinh, câu kệ ngắn, dài ? Phải chăng Đức Thế Tôn đã học hỏi với chư Phật, Bồ tát tại cõi Ta bà trong vô lượng kiếp ! (Bản môn- Phẩm Như Lai Thọ Lượng- Kinh Pháp Hoa). Đích thực, Thái Tử Tất Đạt Đa xuất gia lúc 19 tuổi, tu khổ hạnh suốt sáu năm trời trong rừng. Không học Phật pháp đâu cả, chỉ ngồi thiền định. Nhờ thiền định, mà nhớ hết lại hằng ngàn bài Phật pháp có khế lý khác nhau, do đã học trong vô lượng kiếp tại cõi Ta bà.

  II- Khẩu giáo của Phật.

   Khẩu giáo của Phật được chỉ chung: Thuyết pháp, giảng dạy giáo lý, lời huấn từ, đáp từ, khuyên răn, giáo chỉ, chỉ đạo, thăm hỏi… Vấn đề này được thấy từ lúc Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni còn tại thế cách đây 26 thế kỷ. Từ khi Đức Thế Tôn thành lập Tăng đoàn, Ngài luôn luôn sử dụng kim khẩu chứa đầy lòng từ, ái ngữ, hoan hỷ, bình đẳng nhưng, không kém nghiêm khắc trong lúc thuyết giáo, Pháp đàm với đại chúng Thánh Tăng, thăm hỏi, chỉ giáo, chỉ đạo cho Tôn giả A Nan, Xá Lợi Phất về một số giáo vụ, nói lời giáo huấn cho vị Thánh Tăng nào đó. Chẳng hạn đối với Tôn giả La Hầu La, vị Sa Di nhỏ nhất trong Tăng đoàn. Ngài La Hầu La có tánh ưa đùa nghịch, chọc ghẹo đối với một vài vị Thánh Tăng lớn, mà không bao giờ nhận lỗi của mình. Phật biết hết về chuyện Ngài La Hầu La ưa giỡn cợt với các huynh trưởng.

 Do vậy, một hôm nọ tại rừng Ôn-tuyền, Tôn giả La Hầu La múc nước đổ vào chậu cho Phật rửa chân. Rửa xong rồi, Phật hỏi Ngài La Hầu La; nước trong chậu có uống được không ? Ngài La Hầu La trả lời, dạ không, vì nước đã dơ rồi !

- Phật nói khẽ: “Con cũng giống như nước trong chậu bây giờ ! Nước vốn trong sạch, sau khi rửa chân vào đó, nước trở thành dơ. Con vốn là một vương tôn, đã chịu giã từ những cuộc vui, vinh hoa, phú quý ở vương cung, xuất gia tu hành, thọ giới Sa Di, mà không siêng năng tu tập để rửa sạch thân tâm, vẫn còn hành động trêu ghẹo các thầy bên cạnh. Cho nên trong tâm con đang còn đầy những cáu bẩn, ô trược. Đâu có khác gì nước trong chậu đang sạch, lại bị dơ !

   Phật nói thêm lời giáo dục nữa với Tôn giả La Hầu La. Phật hỏi :

- Này La Hầu La ! Con có thể dùng cái chậu hết nước này, để đựng thức ăn, được không ?

- Kính bạch Thế Tôn ! Trong chậu vẫn đang còn dính chất dơ, không thể đựng thức ăn được.

- Con cũng giống như cái chậu vậy. Con đang là hành giả xuất gia nhưng, không lo tu tập Giới Định, Huệ, làm cho thân, miệng, ý chưa gột sạch, còn chứa đầy trần cáu dơ nhớp, thì đâu còn chỗ để chứa các thức ăn của chánh pháp ?

    Phật Khẩu giáo cộng đồng.

 Khẩu giáo của Đức Phật đối với chư vị Bồ Tát, Thanh Văn, A La Hán, đại chúng Thánh Tăng và Cư sĩ Phật tử các giới thời xưa ấy, là thuyết hằng ngàn bài Pháp dài, ngắn (pháp cú) và kinh điển qua Năm thời, suốt 45 năm. Nội dung của tất cả Kinh điển Phật nói, đều là những khế lý giải thoát. Hai bài pháp đầu tiên, Phật khẩu giáo cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Nai  đó bài “Tứ đế” và bài pháp “Vô ngã tưởng” không lâu sau đó. Tiếp theo, Phật nói nhiều thứ kinh tại các nơi : Pháp Hoa tại núi Kỳ Xà Quật. Các kinh Di Đà, Vu Lan, Kim Cang, Hoa Nghiêm… tại vườn Cấp Cô Độc. Kinh Bát Dương bên sông Căn Già. Kinh Dược Sư tại khu rừng dưới cây Nhạc Âm. Kinh Địa Tạng tại trời Đao Lợi. Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo tại Long Vương Sa Kiệt La. Những bài pháp: Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tam Vô lậu Học, Ba mươi bảy trợ đạo, Bốn bộ kinh A Hàm, v.v…tại núi Linh Thứu.

   Trong lúc khẩu giáo kinh điển cho đại chúng, Đức Thế Tôn nói Pháp bằng tâm qua trạng thái tỉnh thức nhưng, không quên khởi tâm hoan hỷ, dân chủ, tôn trọng đối với hằng ngàn cử tọa, ai muốn hỏi đến chỗ chưa hiểu trong bài pháp thoại, Phật sẵn sàng giải đáp. Nhất là những bài pháp đàm, như Kinh Kim Cang, Phật gợi ý cho ông Tu Bồ Đề hỏi Phật và Phật hỏi lại ông Tu Bồ. Hai bên đối đáp thật sinh động. Tuy nhiên, Phật không quên đem lời khen các cử tọa có ý tưởng hay, trả lời đúng. Chẳng hạn Phật khen các vị đại Bồ tát thượng thủ : “Hay thay! Hay thay ! Thiện nam tử ! Các ông có thể đối với Như Lai mà phát lòng tùy hỷ” (Pháp Hoa- An lạc hạnh). Phật khen Bồ Tát Vô Ngại :”Ông có lời lý luận chính xác, hay lắm ! (kinh Bát Dương).

   Những bài kinh, Phật thuyết trong quá khứ xa xưa đó, đã được các giới Khoa học không gian, vật lý, văn hóa, tiến sĩ giáo sư cấp đại học trên thế giới theo Ki Tô giáo đọc đến, rồi viết ra thành sách, phổ biến khắp nơi để nhân loại nghiên cứu học hỏi theo hạnh từ bi của Phật, mà dừng lại những tay súng, đem lại hòa bình cho nhân loại.

  III- Thân giáo của Phật.

Pháp thân Phật, được gọi bằng cụm từ “Tướng hảo quang minh”, là cây đèn lớn, là cột trụ hải đăng có hằng triệu cánh sen kim cương tỏa ánh sáng ra khắp các pháp giới chư Phật và chúng sanh trong ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc. Pháp thân Phật tại cõi Ta bà nhưng, đâu đâu cũng được tiếp nhận ánh sáng từ pháp thân Phật.

   Do vì tướng hảo quang minh, cho nên con người có tánh cao ngạo, hung dữ đến bậc nào, khi đối diện trước Phật, liền trở nên hiền hòa. Như chàng vua Não chạy theo Phật để hại Phật nhưng, vẫn cách xa Phật hằng trăm mét. Chàng liền la lên : “Ông Cù Đàm ơi ! Sao tôi chạy mãi, mà không đuổi kiệp Ông ?” Phật liền quay lại, vua Não bước tới, bị khựng người, đứng yên, ngước mặt lên, không nói nên lời. Đoạn, Phật nói: “Này vua Não, hãy bỏ con dao trong tâm ra”. Nghe vậy, chàng ta quỳ xuống cúi đầu, xin quy y theo Phật.

  Với các loài thú dữ, như voi say rượu, hung bạo điên cuồng, gặp Phật, chúng liền quỳ xuống thật hiền hòa. Rõ thật qua câu truyện Vua Tần Bà Sa La cho bày voi uống rượu, để hại Phât. Rồi giả vờ mời Phật đến nội thành để vua thăm, sau đó thả voi ra. Khi Phật và Thánh Tăng vừa đến cổng nội thành, bày voi từ trong chạy ra một cách điên cuồng, cùng tiếng kêu E, É, vang dội cả cung thành. Vừa ra cổng thành, tất cả bày voi quỳ xuống trước Phật, im  lặng.

   Cũng trong thời đó, nhiều giới ngoại đạo nghe đến Phật, họ đến với mục đích để hơn Phật qua tranh cãi đạo lý của họ. Hay để tìm lời phỉ báng Phật nhưng, tất cả khi đối diện trước Phật, ai nấy đều im lặng không nói nên lời, chỉ lắng nghe Phật nói lời thăm hỏi, sau đó xin quy y theo Phật tu hành; như năm anh em Ca Diếp theo đạo thờ lửa. Khi gặp Phật, chỉ người anh cả là Ma Ha Ca Diếp và thứ năm Thập lực Ca Diếp xin theo Phật tu hành, còn ba vị kia: “Ưu Lâu Tần  Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp”. Ba người này mời Phật đến nhà họ, với mục đích, xem thử tài đức, uy lực của Phật có thắng nổi con Rồng Lửa của họ hay không. Nếu hạ bệ được Rồng lửa, thì xin quy y theo Phật, bằng không, thì thôi.

Thế là, ba anh em : Ưu Lâu, Già Da và Na Đề mời Phật đến nhà vào một buổi sáng, rồi mời Phậvào đền thờ lửa, đang có con Khủng Lông Lửa trong đó. Ba anh em họ đứng ngoài đưa mắt dõi theo, nghe lửa phát ra ầm ầm, họ vui mừng, nghĩ rằng; Ông Cù Đàm đã bị Khủng Long đốt cháy cả rồi. Sau đó, không còn nghe gì cả. Họ nghĩ rằng Đức Phật bị Khủng Long thiêu rụi thành tro, cho nên Khủng Long nằm im.   Ba anh em họ Ca Diếp dự trù vào đền để xem. Phật biết liền được ý đồ của họ, Phật từ trong đền đi ra một cách khoan thai. Ba anh em họ, cùng nói lớn :” Ụa, sao Ngài Cù Đàm vẫn còn sống ?  Phật bèn trả lời : “Chẳng những Ta còn sống đây, mà con Khủng Long Lửa các ngươi, đã bị Ta tiêu diệt từ lúc đầu cơ, khi nó phun lửa”. Kể từ đó, ba anh em họ Ca Diếp quỳ xuống nói lời sám hối và xin quy y Phật, được Phật hoan hỷ chấp nhận, dẫn về Tinh Xá, tu tập với đại chúng Tăng.

   1- Ý Giáo của các giới Tăng bảo ngày nay.

Kể từ sau khi kết tập ba tạng kinh, Luật, Luận lần thứ Tư (sau 400 năm Phật nhập diệt) trên 10 nước Á Châu có Đạo Phật hiện hữu. Tiếp đến một vài nước Âu Châu. Đến nay, Phật giáo có mặt gần hết ở các nước Âu, Mỹ. Chư Tăng tại các nước Phật giáo nói chung ở các ngôi vị trưởng thượng : Hòa thượng (Sư bà), bậc trung Thượng Tọa (Ni sư) bậc hạ Đại đức (Sư cô). Tất cả, đều tự xây dựng Ý giáo cho mình bằng cách tự học Phật pháp qua kinh, luật, luận bằng ngôn ngữ tại nước mình. là : Sanskrit (Ấn Độ-Tích Lan), Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Canada, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bổn, Hàn Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có nhiều vị đại Tăng tìm học Phật pháp với những vị đại danh Tăng có sở học cao. Như Bồ Đề Đạt Ma đã tìm học Phật với Bồ Tát Nhã Đa La, vị Tổ Thiền thứ 27 sau khi tự học Triết lý Trung Đạo, Tánh Không của ba vị Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước.

   Chư Tăng, Ni tại các quốc gia lấy Phật giáo làm Quốc giáo, như Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bổn, Hàn Quốc, Miến Điện, Lào, Campuchia và Việt Nam. Được thấy chư Tăng, Ni tại các nước nói trên, tất cả đều tự tạo ý giáo cho mình qua quá trình học hỏi Kinh, Luật, Luận vốn sẵn có tại tự viện. Rõ nét nhất, được thấy các bậc đạo sư Việt Nam dưới các triều đại Lý, Trần, Nguyễn. Như Thiền Sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Huyền Quang, Trần Nhân Tông… Trong thời Nhà Nguyễn có các vị Tổ Liễu Quán, Nguyên Thiều, Phước Huệ, Tịnh Khiết, v.v…Tất cả tự tạo Ý giáo cho mình qua tự học kinh, Luật, Luận.

   Dĩ nhiên, theo quy luật tre tàn, măng mọc. Tức là chư Tăng, Ni tại các chùa trên thế giới đều có Tăng, Ni trẻ phát tâm xuất gia, xin vào đó để học phật và tu tập. Với vai trò giáo dục cho nhau. Từ cấp trên giáo dục xuống cấp dưới hậu lai. Hậu lai trở thành bậc trung, thượng. Cứ như thế, mà xoay vần hết lớp này đến lớp khác từ thuở xa xưa ấy và nay vẫn tiếp tục truyền thừa quy luật giáo dục thiền môn.

  Để được có đạo lý kinh điển của Phật làm nền tảng dạy dỗ Tăng, Ni và Phật tử. Các lớp Tăng, Ni nào dù ở các nước Đông, Tây cũng phải trải qua trường Đạo, thì mới thành Tăng. Thành Tăng có hai hạng: 1-Tăng, chỉ chung ai cũng phải có giới đức Tỳ Kheo, thân tướng trang nghiêm, đầu tròn, áo vuông, gọi là đường đường Tăng tướng. 2- Tăng tài. Tăng có học vị văn hóa Quốc gia làm nền tảng tiến lên học vị khoa bảng Phật học ở ba cấp: Tiểu,Trung và Cao đẳng (Cử nhân, Tiến sĩ Phật Học), được thấy tại Việt Nam từ 1964-2016, và mai sau nữa.

   Cả hai cấp Tăng, Ni có sở học văn hóa cao hay thấp, tất cả đều có vai trò giáo dục cho Tăng, Ni cấp dưới của mình tại Tự viện, Tu viện. Giáo dục ở lãnh vực Tăng với Tăng, Ni với Ni, là dạy về các cách : đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, nói năng, đánh mõ, gõ chuông, đóng cửa chùa, quét sân, hương đăng, rửa chén bát, thị giả, v.v…Tất cả Tăng, Ni hậu lai phải tri hành đúng giới luật về Oai Nghi của Phật, mà Tăng, Ni cấp Thượng, Trung đang hướng dẫn để trang nghiêm thân tâm, cho nên mới nói : Ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi…đều là Đạo. Đạo ở đây, là tâm tỉnh thức. Chẳng hạn nằm ngủ, phải nằm nghiêng bên phải, không nằm ngữa, hay bên trái. Đi chậm từng bước. Quét sân chùa, quét theo chiều gió,v.v…Thêm luật mới, đó là lái xe hơi, gắn máy phải lái đúng luật giao thông quốc tế và quốc gia sở tại. Tăng, Ni Phật giáo tri hành đúng luật thiền môn, gọi là đời sống đạo Thiền môn. (Thiền môn thanh tịnh, hải chúng an hòa).

   II-KHẨU GIÁO của chư Tăng.

Khẩu giáo của chư Tăng ngày nay, là những lời :1-Thuyết Pháp cho đại chúng Cư sĩ Phật tử tại đạo tràng tự viện hay cho đồng bào các giới tại Hội trường quốc gia ngoài xã hội, dạy Kinh điển cho Tăng, Ni, giáo huấn chư Tăng, Ni cấp dưới về sự việc nào đó thuộc lãnh vực giáo hội hay Tu viện, Tự viện bằng lời nói thật êm ái, nhẹ nhàng, từ tốn, khiến cho mọi người khởi lòng tuân theo, thương kính cúi đầu ( do thuyết tâm không thuyết ngôn). Được như vậy do từ ý giáo vốn có 2 thứ :1- thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa của từng pháp môn tu trong ba tạng Kinh, Luật, Luận. 2- Nói ra lời Pháp, giáo huấn, chỉ thị các việc làm, đều có lòng từ trong đó, là năng lực  khiến cho mọi người ngoan ngoản nghe theo, tuân lệnh thi hành  một cách thương kính. Những vị có khẩu giáo này, dù có giữ vai trò đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp hay chỉ chuyên tu tập trong am thiền, tịnh thất, tư gia… Tất cả ai cũng phải tri hành vai trò khẩu giáo (giáo thọ, trụ trì, thủ chúng).

 III- Thân giáo chư Tăng ngày nay.

     Thân giáo, nghĩa là giáo dục con người bằng thân tướng, tức là không nói hay chưa nói, mà các đối tượng sống chung trong Tu viện, tự viện, làm  việc cùng cơ sở giáo hội, v.v.. mới vừa gặp đã sanh tâm tôn kính lễ bái, chào hỏi một cách trịnh trọng, vâng lời, kính nễ và cả sợ nữa.

   Thân tướng như thế nào mà những người cấp dưới hay mới gặp lần đầu mà đã sanh lòng tôn kính? Thân tướng ấy không phải là tấm thân cao ráo, xinh đẹp, các căn đầy đủ. Mà là bản thân nhỏ, thấp hay cao ráo được có trạng thái đứng đắn, trang nghiêm, chững chạc, thật lòng, cho nên lời nói ra điều gì đều chắc nịch như đinh đóng cột, hứa điều gì với ai luôn nhớ và thi hành, khi nhìn ai là nhìn thẳng vào mặt một cách chánh trực, khi đi là đi từng bước chững chạc, khi đứng là đứng ngay người, ngồi là ngồi đúng cách, nằm là nằm tế nhị và kín đáo, ăn thật chậm rãi, ít nói, thường im lặng như chánh pháp, khi nói là nói điều hay, lẽ phải mang tính giáo dục lợi ích cho mọi người, gọi là nói năng như chánh Pháp.

   Tất cả những đạo hạnh nói trên được có ở những bậc tu hành cao tột (Tăng, Ni), là do từ ý giáo tạo nên, nói như ngạn ngữ Việt Nam : “Có văn có chất mới thật con người”.

    C- KẾT LUẬN

   Ba nền tảng giáo dục Ý giáo, Khẩu giáo và Thân giáo trong Đạo Phật, là phạm trù văn hóa đặc sắc để trang nghiêm thân tâm 4 chúng đệ tử Phật luôn thanh tịnh tâm, là điều cần thiết ắt phải có trong công tác giáo dục cho mình, cho người, tức là tất cả mọi người trong đại gia đình Phật giáo trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều phải học Phật và tri hành đúng chánh đạo, chánh pháp. Bởi vì mục tiêu chính yếu của Đạo Phật là con đường giải thoát bằng Phật pháp cho mình và chúng sanh, do vậy không thể không tiếp nhận sự giáo dục bằng Phật pháp từ chư Tăng, Ni các cấp tại Tự viện, trường sở. Bởi vì toàn bộ nền đạo lý Phật đều là những chất liệu giáo dục để chuyển hóa tất cả chủng tử vô minh, phiền não, ác trược trong tâm con người  trở thành Bồ Đề.

 

                     Đức Hạnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/03/201713:18(Xem: 2069)
Nhân dịp đức Phật về Thành Ca Tỳ La Vệ giáo hóa hay tin công chúa Da Du Đà La mới bảo con mình đến gặp Phật xin chia gia tài, Phật mới nói rằng ta bây giờ không còn nắm giữ tài sản thế gian, chỉ có tài sản của bậc Thánh, nếu con muốn ta sẽ chia cho con? La Hầu La nghe Phật nói liền chấp nhận và sau đó phát tâm xuất gia tu theo Phật. Các bạn biết gia tài tâm linh đó là gì không? Này các bạn, đức Phật của chúng ta trước khi đi tu vẫn có vợ có con, sau khi thành đạo dưới cội Bồ đề thấu rõ mọi nguyên lý sai biệt như phải quấy, tốt xấu, nên hư, thành bại trong cuộc đời đều do chính mình tạo lấy, sau đó Phật mới trở về tiếp chúng độ sinh. Bảy thứ gia tài Thánh nếu chúng ta biết ứng dụng vào trong đời sống hằng ngày, thì chúng ta sẽ giàu có và tràn đầy hạnh phúc, không một ai có thể cướp đi được. Đức Phật của chúng ta đã thừa hưởng gia tài đó, nên đã không còn luyến tiếc cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, và thần dân thiên hạ.
20/03/201702:48(Xem: 2064)
Sau khi nhịp đập của con tim bị ngừng lại và cùng lúc 5 giác quan của toàn thân con người không còn biết cảm giác, gọi là Chết. Nhưng thức A-lại-da bên trong vẫn còn hằng chuyển liên tục và hoạt động một mình. Sự hoạt động đơn phương của nó y như lúc con người còn sống đang ngủ say.Thức A-lại-da hoạt động một mình, không có 5 giác quan của cơ thể bên ngoài cộng tác
16/03/201711:10(Xem: 1857)
Trong bài “Sức Mạnh Của Tâm” kỳ trước có nói đến Tâm là chủ tể. Đích thực, con người trên đời này làm nên vô số việc tốt, xấu, học hành, nên danh, nên nghiệp, mưu sinh sống đời hạnh phúc, khổ đau, cho đến tu tập phật pháp được giác ngộ thành Phật, thành Thánh, Nhân bản, v.v…đều do tâm chỉ đạo (nhất thiết duy tâm tạo). Qua đây cho ta thấy rằng; tâm là con người thật của con người, (động vật có linh giác, giác hồn thật siêu việt hơn tất cả các loài hữu tình khác trên trái đất này). Phi tâm ra, bản thân con người, chỉ là một khối thịt bất động.
16/03/201706:42(Xem: 1779)
Trong nghi thức Cầu Siêu của Phật Giáo Việt Nam, ở phần Quy Y Linh, có ba lời pháp ngữ: “Hương linh quy y PHẬT, đấng PHƯỚC TRÍ VẸN TOÀN – Hương linh quy y PHÁP, đạo THOÁT LY THAM DỤC – Hương linh quy y TĂNG, bậc TU HÀNH CAO TỘT” (chơn tâm – vô ngã). Ba lời pháp ngữ trên chính là ba điều kiện, ba phương tiện siêu xuất, có năng lực đưa hương linh (thân trung ấm) được siêu lên các cõi thiện tùy theo mức độ thiện nghiệp nhiều,
13/03/201721:37(Xem: 1151)
Chữ NHƯ được thông dụng rất phổ biến trong văn chương và lời nói thường nghiệm của các dân tộc trên thế giới và trong Phật Giáo . Trong văn chương, chữ Như được thấy ở một số trường hợp : Xác định, phủ định, tương tợ, không thực…(như ảo, như hóa) đối với các vật thể hiện thực.
11/03/201703:50(Xem: 1532)
Do vì đặc thù, cho nên bảy hạng đệ tử Phật (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Sa di, Sa di ni, Thích xoa Ma na, Ưu Bà Tắt, Ưu Bà Di) từ trong thời Phật còn tại thế và hôm nay, ai cũng phải có tâm từ bi là một quy luật ắt phải có sau khi quay về Đạo Phật (Quy y tam bảo) trở thành Phật tử xuất gia. Được có tâm từ bi, là phải học và thực tập Phật Pháp. Dù là những oanh vũ nam, oanh vũ nữ trong tập thể GĐPT, đều phải học đạo lý từ bi và thực tập từ bi, được thấy ở những câu: em thương người và vật, em kính mến cha, mẹ và thuận thảo với anh chi, em.
29/01/201720:04(Xem: 4367)
Hiểu tư tưởng Duyên Khởi thì hiểu Triết học Phật giáo. Thuyết “duyên khởi” là một nền tảng triết lý rất quan trọng trong lời giáo huấn của Đức Phật. Sau khi đắc đạo, Đức Phật đã căn cứ vào lẽ sanh khởi của dukkha (những điều không hài lòng, căng thẳng, khổ đau…) mà nói lên sự liên hệ nhân quả của nó gồm có 12 thứ/ 12 chi. Ngài lập ra thuyết “duyên Khởi”.
22/12/201610:04(Xem: 7546)
Tất cả chúng ta đều biết rằng lời Phật dạy trong 45 năm, sau khi Ngài đắc đạo dưới cội cây Bồ Đề tại Gaya ở Ấn Độ, đã để lại cho chúng ta một gia tài tâm linh đồ sộ qua khẩu truyền cũng như bằng văn tự. Kể từ đó đến nay, con Người vĩ đại ấy và giáo lý thậm thâm vi diệu của Ngài đã vượt ra khỏi không gian của xứ Ấn và thời gian trải dài suốt 26 thế kỷ từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, từ Mỹ sang Úc, Phi Châu v.v… Như vậy đủ để cho chúng ta thấy rằng giáo lý ấy đã khế hợp với căn cơ của mọi người, dầu tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền và ngay cả Kim Cang Thừa đi nữa cũng là những cổ xe đang chuyên chở mọi người đi đến con đường giải thoát của sanh tử luân hồi.
20/12/201608:43(Xem: 4464)
Đức Phật xuất hiện ở đời vì hạnh phúc chư thiên và loài người. Sau 49 năm thuyết pháp, độ sinh, ngài đã để lại cho chúng ta vô số pháp môn tu tập tùy theo căn cơ của mỗi người nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau, mang lại hạnh phúc an vui, giải thoát, niết bàn. Chỉ xét riêng thánh quả Dự Lưu (Tu Đà Hườn), trong kinh điển Nikaya (Pali) Thế Tôn và ngài Xá Lợi Phất chỉ ra hơn năm cách[i] khác nhau tùy theo hoàn cảnh và sở trường của hành giả xuất gia cũng như tại gia để chứng đắc thánh quả đầu tiên này trong bốn thánh quả. Trong những cách này, cách dễ nhất, căn bản nhất, phổ quát nhất và hợp với đại đa số chúng đệ tử nhất
22/11/201609:18(Xem: 51582)
Thư Viện Kinh Sách tổng hợp dung chứa trên 600 tập sách trên Trang Nhà Quảng Đức