Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Ba nền tảng giáo dục trong Đạo Phật

01/02/201704:39(Xem: 1199)
Ba nền tảng giáo dục trong Đạo Phật


hoasen3


BA NỀN TẢNG GIÁO DỤC TRONG ĐẠO PHẬT

(Ý giáo, Khẩu giáo và Thân giáo)

Đức Hạnh

 

 A-Định nghĩa : Ý GIÁO

Một số tư tưởng Phật học sau đây cùng nói lên nghĩa của Ý Giáo : Ý tưởng mong muốn đem giáo Pháp giải thoát của Phật ra, giảng dạy cho mọi người được biết mà tu tập. Tâm thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa Phật pháp. Tự mình làm thầy lấy mình để sửa tâm. Tự mình thắp đuốc lên mà đi. Hành giả vào đạo Phật để tìm con đường giải thoát, phải học Phật. Là Tăng bảo trong Phật giáo phải học kinh, luật, luận. Muốn biết lý lẽ thế gian tức thị phật pháp, phải học Phật pháp. Tâm biết được những thứ đạo thiện, đạo ác, phải học Phật. Muốn thành Phật, Bồ Tát, các bậc Thánh, phải học và tu tập Phật pháp. Muốn nói Phật Pháp đúng khế lý, phải uyên thâm Phật học. Tâm giác ngộ, là chất liệu kiến tạo pháp thân. Trước khi làm việc gì, phải đem tâm tư duy, quán xét kỹ, rồi mới thi hành đúng với câu ngạn ngữ : “Phàm làm việc gì phải nghĩ đến kết quả của nó”. Tâm thông đạt Phật pháp là một đại đăng, soi đường cho thế gian được sáng.

   B- Tóm lại. Ý giáo là thông đạt kinh điển, tự tu, tự giác ngộ, là nền tảng giáo dục cho pháp giới chúng sanh (giác tha) bằng Khẩu giáo. Chư Tăng, Ni là người thầy nói pháp giải thoát chúng sanh, ai cũng phải đạt được Ý giáo. Không có ý giáo, không thể có khẩu giáo. Quy luật này được có trong Tăng đoàn của Phật từ ngàn xưa và Tăng đoàn ngày nay vẫn tri hành đúng không khác. Người viết đề tài trên, mục đích để cho Phật tử tại gia được biết. Nếu ai phát nguyện hoằng hóa độ sanh, phải thông đạt khế lý Phật pháp, thì mới hành động độ tha đúng chánh đạo.

   I- Ý giáo của Phật.

Như hai lần phật nói lời xác định : 1-“Ta vốn ở tại cõi Ta bà trong vô lượng kiếp, chứ không phải vừa mới sanh ra tại vườn Lâm Tỳ Ni- Nước Ca Tỳ La Vệ”. 2- “Chính Ta đã thành Phật từ vô lượng kiếp, chứ không phải mới khuya hôm nào dưới cội Bồ Đề”.

   Đúng như tam minh : Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, và Lậu tận minh được hiện hữu trong tâm của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đang ngồi dưới cội Bồ Đề khuya mồng Tám Tháng Mười Hai, cách nay 26 thế kỷ. Và sau đó Phật rời khỏi cội Bồ Đề, đi về phía Vườn Nai. Tại đây, Phật đã nói hai bài pháp Tứ đế cho năm anh em Kiều Trần Như trong giờ phút đầu tiên và bài phá Vô ngã tưởng sau đó không lâu. Rồi liên tiếp nói năm thời Pháp với hằng ngàn bài pháp có đề tài khác nhau có nội dung siêu lý luận, Nhân đạo, Thiên đạo hiện thực lý giải thoát cho Tăng đoàn và các giới Cư Sĩ suốt 45 năm như vậy. Thử hỏi, Đức Thế Tôn của Ta lấy đâu ra hằng ngàn bài pháp, lời kinh, câu kệ ngắn, dài ? Phải chăng Đức Thế Tôn đã học hỏi với chư Phật, Bồ tát tại cõi Ta bà trong vô lượng kiếp ! (Bản môn- Phẩm Như Lai Thọ Lượng- Kinh Pháp Hoa). Đích thực, Thái Tử Tất Đạt Đa xuất gia lúc 19 tuổi, tu khổ hạnh suốt sáu năm trời trong rừng. Không học Phật pháp đâu cả, chỉ ngồi thiền định. Nhờ thiền định, mà nhớ hết lại hằng ngàn bài Phật pháp có khế lý khác nhau, do đã học trong vô lượng kiếp tại cõi Ta bà.

  II- Khẩu giáo của Phật.

   Khẩu giáo của Phật được chỉ chung: Thuyết pháp, giảng dạy giáo lý, lời huấn từ, đáp từ, khuyên răn, giáo chỉ, chỉ đạo, thăm hỏi… Vấn đề này được thấy từ lúc Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni còn tại thế cách đây 26 thế kỷ. Từ khi Đức Thế Tôn thành lập Tăng đoàn, Ngài luôn luôn sử dụng kim khẩu chứa đầy lòng từ, ái ngữ, hoan hỷ, bình đẳng nhưng, không kém nghiêm khắc trong lúc thuyết giáo, Pháp đàm với đại chúng Thánh Tăng, thăm hỏi, chỉ giáo, chỉ đạo cho Tôn giả A Nan, Xá Lợi Phất về một số giáo vụ, nói lời giáo huấn cho vị Thánh Tăng nào đó. Chẳng hạn đối với Tôn giả La Hầu La, vị Sa Di nhỏ nhất trong Tăng đoàn. Ngài La Hầu La có tánh ưa đùa nghịch, chọc ghẹo đối với một vài vị Thánh Tăng lớn, mà không bao giờ nhận lỗi của mình. Phật biết hết về chuyện Ngài La Hầu La ưa giỡn cợt với các huynh trưởng.

 Do vậy, một hôm nọ tại rừng Ôn-tuyền, Tôn giả La Hầu La múc nước đổ vào chậu cho Phật rửa chân. Rửa xong rồi, Phật hỏi Ngài La Hầu La; nước trong chậu có uống được không ? Ngài La Hầu La trả lời, dạ không, vì nước đã dơ rồi !

- Phật nói khẽ: “Con cũng giống như nước trong chậu bây giờ ! Nước vốn trong sạch, sau khi rửa chân vào đó, nước trở thành dơ. Con vốn là một vương tôn, đã chịu giã từ những cuộc vui, vinh hoa, phú quý ở vương cung, xuất gia tu hành, thọ giới Sa Di, mà không siêng năng tu tập để rửa sạch thân tâm, vẫn còn hành động trêu ghẹo các thầy bên cạnh. Cho nên trong tâm con đang còn đầy những cáu bẩn, ô trược. Đâu có khác gì nước trong chậu đang sạch, lại bị dơ !

   Phật nói thêm lời giáo dục nữa với Tôn giả La Hầu La. Phật hỏi :

- Này La Hầu La ! Con có thể dùng cái chậu hết nước này, để đựng thức ăn, được không ?

- Kính bạch Thế Tôn ! Trong chậu vẫn đang còn dính chất dơ, không thể đựng thức ăn được.

- Con cũng giống như cái chậu vậy. Con đang là hành giả xuất gia nhưng, không lo tu tập Giới Định, Huệ, làm cho thân, miệng, ý chưa gột sạch, còn chứa đầy trần cáu dơ nhớp, thì đâu còn chỗ để chứa các thức ăn của chánh pháp ?

    Phật Khẩu giáo cộng đồng.

 Khẩu giáo của Đức Phật đối với chư vị Bồ Tát, Thanh Văn, A La Hán, đại chúng Thánh Tăng và Cư sĩ Phật tử các giới thời xưa ấy, là thuyết hằng ngàn bài Pháp dài, ngắn (pháp cú) và kinh điển qua Năm thời, suốt 45 năm. Nội dung của tất cả Kinh điển Phật nói, đều là những khế lý giải thoát. Hai bài pháp đầu tiên, Phật khẩu giáo cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Nai  đó bài “Tứ đế” và bài pháp “Vô ngã tưởng” không lâu sau đó. Tiếp theo, Phật nói nhiều thứ kinh tại các nơi : Pháp Hoa tại núi Kỳ Xà Quật. Các kinh Di Đà, Vu Lan, Kim Cang, Hoa Nghiêm… tại vườn Cấp Cô Độc. Kinh Bát Dương bên sông Căn Già. Kinh Dược Sư tại khu rừng dưới cây Nhạc Âm. Kinh Địa Tạng tại trời Đao Lợi. Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo tại Long Vương Sa Kiệt La. Những bài pháp: Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tam Vô lậu Học, Ba mươi bảy trợ đạo, Bốn bộ kinh A Hàm, v.v…tại núi Linh Thứu.

   Trong lúc khẩu giáo kinh điển cho đại chúng, Đức Thế Tôn nói Pháp bằng tâm qua trạng thái tỉnh thức nhưng, không quên khởi tâm hoan hỷ, dân chủ, tôn trọng đối với hằng ngàn cử tọa, ai muốn hỏi đến chỗ chưa hiểu trong bài pháp thoại, Phật sẵn sàng giải đáp. Nhất là những bài pháp đàm, như Kinh Kim Cang, Phật gợi ý cho ông Tu Bồ Đề hỏi Phật và Phật hỏi lại ông Tu Bồ. Hai bên đối đáp thật sinh động. Tuy nhiên, Phật không quên đem lời khen các cử tọa có ý tưởng hay, trả lời đúng. Chẳng hạn Phật khen các vị đại Bồ tát thượng thủ : “Hay thay! Hay thay ! Thiện nam tử ! Các ông có thể đối với Như Lai mà phát lòng tùy hỷ” (Pháp Hoa- An lạc hạnh). Phật khen Bồ Tát Vô Ngại :”Ông có lời lý luận chính xác, hay lắm ! (kinh Bát Dương).

   Những bài kinh, Phật thuyết trong quá khứ xa xưa đó, đã được các giới Khoa học không gian, vật lý, văn hóa, tiến sĩ giáo sư cấp đại học trên thế giới theo Ki Tô giáo đọc đến, rồi viết ra thành sách, phổ biến khắp nơi để nhân loại nghiên cứu học hỏi theo hạnh từ bi của Phật, mà dừng lại những tay súng, đem lại hòa bình cho nhân loại.

  III- Thân giáo của Phật.

Pháp thân Phật, được gọi bằng cụm từ “Tướng hảo quang minh”, là cây đèn lớn, là cột trụ hải đăng có hằng triệu cánh sen kim cương tỏa ánh sáng ra khắp các pháp giới chư Phật và chúng sanh trong ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc. Pháp thân Phật tại cõi Ta bà nhưng, đâu đâu cũng được tiếp nhận ánh sáng từ pháp thân Phật.

   Do vì tướng hảo quang minh, cho nên con người có tánh cao ngạo, hung dữ đến bậc nào, khi đối diện trước Phật, liền trở nên hiền hòa. Như chàng vua Não chạy theo Phật để hại Phật nhưng, vẫn cách xa Phật hằng trăm mét. Chàng liền la lên : “Ông Cù Đàm ơi ! Sao tôi chạy mãi, mà không đuổi kiệp Ông ?” Phật liền quay lại, vua Não bước tới, bị khựng người, đứng yên, ngước mặt lên, không nói nên lời. Đoạn, Phật nói: “Này vua Não, hãy bỏ con dao trong tâm ra”. Nghe vậy, chàng ta quỳ xuống cúi đầu, xin quy y theo Phật.

  Với các loài thú dữ, như voi say rượu, hung bạo điên cuồng, gặp Phật, chúng liền quỳ xuống thật hiền hòa. Rõ thật qua câu truyện Vua Tần Bà Sa La cho bày voi uống rượu, để hại Phât. Rồi giả vờ mời Phật đến nội thành để vua thăm, sau đó thả voi ra. Khi Phật và Thánh Tăng vừa đến cổng nội thành, bày voi từ trong chạy ra một cách điên cuồng, cùng tiếng kêu E, É, vang dội cả cung thành. Vừa ra cổng thành, tất cả bày voi quỳ xuống trước Phật, im  lặng.

   Cũng trong thời đó, nhiều giới ngoại đạo nghe đến Phật, họ đến với mục đích để hơn Phật qua tranh cãi đạo lý của họ. Hay để tìm lời phỉ báng Phật nhưng, tất cả khi đối diện trước Phật, ai nấy đều im lặng không nói nên lời, chỉ lắng nghe Phật nói lời thăm hỏi, sau đó xin quy y theo Phật tu hành; như năm anh em Ca Diếp theo đạo thờ lửa. Khi gặp Phật, chỉ người anh cả là Ma Ha Ca Diếp và thứ năm Thập lực Ca Diếp xin theo Phật tu hành, còn ba vị kia: “Ưu Lâu Tần  Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp”. Ba người này mời Phật đến nhà họ, với mục đích, xem thử tài đức, uy lực của Phật có thắng nổi con Rồng Lửa của họ hay không. Nếu hạ bệ được Rồng lửa, thì xin quy y theo Phật, bằng không, thì thôi.

Thế là, ba anh em : Ưu Lâu, Già Da và Na Đề mời Phật đến nhà vào một buổi sáng, rồi mời Phậvào đền thờ lửa, đang có con Khủng Lông Lửa trong đó. Ba anh em họ đứng ngoài đưa mắt dõi theo, nghe lửa phát ra ầm ầm, họ vui mừng, nghĩ rằng; Ông Cù Đàm đã bị Khủng Long đốt cháy cả rồi. Sau đó, không còn nghe gì cả. Họ nghĩ rằng Đức Phật bị Khủng Long thiêu rụi thành tro, cho nên Khủng Long nằm im.   Ba anh em họ Ca Diếp dự trù vào đền để xem. Phật biết liền được ý đồ của họ, Phật từ trong đền đi ra một cách khoan thai. Ba anh em họ, cùng nói lớn :” Ụa, sao Ngài Cù Đàm vẫn còn sống ?  Phật bèn trả lời : “Chẳng những Ta còn sống đây, mà con Khủng Long Lửa các ngươi, đã bị Ta tiêu diệt từ lúc đầu cơ, khi nó phun lửa”. Kể từ đó, ba anh em họ Ca Diếp quỳ xuống nói lời sám hối và xin quy y Phật, được Phật hoan hỷ chấp nhận, dẫn về Tinh Xá, tu tập với đại chúng Tăng.

   1- Ý Giáo của các giới Tăng bảo ngày nay.

Kể từ sau khi kết tập ba tạng kinh, Luật, Luận lần thứ Tư (sau 400 năm Phật nhập diệt) trên 10 nước Á Châu có Đạo Phật hiện hữu. Tiếp đến một vài nước Âu Châu. Đến nay, Phật giáo có mặt gần hết ở các nước Âu, Mỹ. Chư Tăng tại các nước Phật giáo nói chung ở các ngôi vị trưởng thượng : Hòa thượng (Sư bà), bậc trung Thượng Tọa (Ni sư) bậc hạ Đại đức (Sư cô). Tất cả, đều tự xây dựng Ý giáo cho mình bằng cách tự học Phật pháp qua kinh, luật, luận bằng ngôn ngữ tại nước mình. là : Sanskrit (Ấn Độ-Tích Lan), Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Canada, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bổn, Hàn Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có nhiều vị đại Tăng tìm học Phật pháp với những vị đại danh Tăng có sở học cao. Như Bồ Đề Đạt Ma đã tìm học Phật với Bồ Tát Nhã Đa La, vị Tổ Thiền thứ 27 sau khi tự học Triết lý Trung Đạo, Tánh Không của ba vị Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước.

   Chư Tăng, Ni tại các quốc gia lấy Phật giáo làm Quốc giáo, như Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bổn, Hàn Quốc, Miến Điện, Lào, Campuchia và Việt Nam. Được thấy chư Tăng, Ni tại các nước nói trên, tất cả đều tự tạo ý giáo cho mình qua quá trình học hỏi Kinh, Luật, Luận vốn sẵn có tại tự viện. Rõ nét nhất, được thấy các bậc đạo sư Việt Nam dưới các triều đại Lý, Trần, Nguyễn. Như Thiền Sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Huyền Quang, Trần Nhân Tông… Trong thời Nhà Nguyễn có các vị Tổ Liễu Quán, Nguyên Thiều, Phước Huệ, Tịnh Khiết, v.v…Tất cả tự tạo Ý giáo cho mình qua tự học kinh, Luật, Luận.

   Dĩ nhiên, theo quy luật tre tàn, măng mọc. Tức là chư Tăng, Ni tại các chùa trên thế giới đều có Tăng, Ni trẻ phát tâm xuất gia, xin vào đó để học phật và tu tập. Với vai trò giáo dục cho nhau. Từ cấp trên giáo dục xuống cấp dưới hậu lai. Hậu lai trở thành bậc trung, thượng. Cứ như thế, mà xoay vần hết lớp này đến lớp khác từ thuở xa xưa ấy và nay vẫn tiếp tục truyền thừa quy luật giáo dục thiền môn.

  Để được có đạo lý kinh điển của Phật làm nền tảng dạy dỗ Tăng, Ni và Phật tử. Các lớp Tăng, Ni nào dù ở các nước Đông, Tây cũng phải trải qua trường Đạo, thì mới thành Tăng. Thành Tăng có hai hạng: 1-Tăng, chỉ chung ai cũng phải có giới đức Tỳ Kheo, thân tướng trang nghiêm, đầu tròn, áo vuông, gọi là đường đường Tăng tướng. 2- Tăng tài. Tăng có học vị văn hóa Quốc gia làm nền tảng tiến lên học vị khoa bảng Phật học ở ba cấp: Tiểu,Trung và Cao đẳng (Cử nhân, Tiến sĩ Phật Học), được thấy tại Việt Nam từ 1964-2016, và mai sau nữa.

   Cả hai cấp Tăng, Ni có sở học văn hóa cao hay thấp, tất cả đều có vai trò giáo dục cho Tăng, Ni cấp dưới của mình tại Tự viện, Tu viện. Giáo dục ở lãnh vực Tăng với Tăng, Ni với Ni, là dạy về các cách : đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, nói năng, đánh mõ, gõ chuông, đóng cửa chùa, quét sân, hương đăng, rửa chén bát, thị giả, v.v…Tất cả Tăng, Ni hậu lai phải tri hành đúng giới luật về Oai Nghi của Phật, mà Tăng, Ni cấp Thượng, Trung đang hướng dẫn để trang nghiêm thân tâm, cho nên mới nói : Ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi…đều là Đạo. Đạo ở đây, là tâm tỉnh thức. Chẳng hạn nằm ngủ, phải nằm nghiêng bên phải, không nằm ngữa, hay bên trái. Đi chậm từng bước. Quét sân chùa, quét theo chiều gió,v.v…Thêm luật mới, đó là lái xe hơi, gắn máy phải lái đúng luật giao thông quốc tế và quốc gia sở tại. Tăng, Ni Phật giáo tri hành đúng luật thiền môn, gọi là đời sống đạo Thiền môn. (Thiền môn thanh tịnh, hải chúng an hòa).

   II-KHẨU GIÁO của chư Tăng.

Khẩu giáo của chư Tăng ngày nay, là những lời :1-Thuyết Pháp cho đại chúng Cư sĩ Phật tử tại đạo tràng tự viện hay cho đồng bào các giới tại Hội trường quốc gia ngoài xã hội, dạy Kinh điển cho Tăng, Ni, giáo huấn chư Tăng, Ni cấp dưới về sự việc nào đó thuộc lãnh vực giáo hội hay Tu viện, Tự viện bằng lời nói thật êm ái, nhẹ nhàng, từ tốn, khiến cho mọi người khởi lòng tuân theo, thương kính cúi đầu ( do thuyết tâm không thuyết ngôn). Được như vậy do từ ý giáo vốn có 2 thứ :1- thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa của từng pháp môn tu trong ba tạng Kinh, Luật, Luận. 2- Nói ra lời Pháp, giáo huấn, chỉ thị các việc làm, đều có lòng từ trong đó, là năng lực  khiến cho mọi người ngoan ngoản nghe theo, tuân lệnh thi hành  một cách thương kính. Những vị có khẩu giáo này, dù có giữ vai trò đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp hay chỉ chuyên tu tập trong am thiền, tịnh thất, tư gia… Tất cả ai cũng phải tri hành vai trò khẩu giáo (giáo thọ, trụ trì, thủ chúng).

 III- Thân giáo chư Tăng ngày nay.

     Thân giáo, nghĩa là giáo dục con người bằng thân tướng, tức là không nói hay chưa nói, mà các đối tượng sống chung trong Tu viện, tự viện, làm  việc cùng cơ sở giáo hội, v.v.. mới vừa gặp đã sanh tâm tôn kính lễ bái, chào hỏi một cách trịnh trọng, vâng lời, kính nễ và cả sợ nữa.

   Thân tướng như thế nào mà những người cấp dưới hay mới gặp lần đầu mà đã sanh lòng tôn kính? Thân tướng ấy không phải là tấm thân cao ráo, xinh đẹp, các căn đầy đủ. Mà là bản thân nhỏ, thấp hay cao ráo được có trạng thái đứng đắn, trang nghiêm, chững chạc, thật lòng, cho nên lời nói ra điều gì đều chắc nịch như đinh đóng cột, hứa điều gì với ai luôn nhớ và thi hành, khi nhìn ai là nhìn thẳng vào mặt một cách chánh trực, khi đi là đi từng bước chững chạc, khi đứng là đứng ngay người, ngồi là ngồi đúng cách, nằm là nằm tế nhị và kín đáo, ăn thật chậm rãi, ít nói, thường im lặng như chánh pháp, khi nói là nói điều hay, lẽ phải mang tính giáo dục lợi ích cho mọi người, gọi là nói năng như chánh Pháp.

   Tất cả những đạo hạnh nói trên được có ở những bậc tu hành cao tột (Tăng, Ni), là do từ ý giáo tạo nên, nói như ngạn ngữ Việt Nam : “Có văn có chất mới thật con người”.

    C- KẾT LUẬN

   Ba nền tảng giáo dục Ý giáo, Khẩu giáo và Thân giáo trong Đạo Phật, là phạm trù văn hóa đặc sắc để trang nghiêm thân tâm 4 chúng đệ tử Phật luôn thanh tịnh tâm, là điều cần thiết ắt phải có trong công tác giáo dục cho mình, cho người, tức là tất cả mọi người trong đại gia đình Phật giáo trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều phải học Phật và tri hành đúng chánh đạo, chánh pháp. Bởi vì mục tiêu chính yếu của Đạo Phật là con đường giải thoát bằng Phật pháp cho mình và chúng sanh, do vậy không thể không tiếp nhận sự giáo dục bằng Phật pháp từ chư Tăng, Ni các cấp tại Tự viện, trường sở. Bởi vì toàn bộ nền đạo lý Phật đều là những chất liệu giáo dục để chuyển hóa tất cả chủng tử vô minh, phiền não, ác trược trong tâm con người  trở thành Bồ Đề.

 

                     Đức Hạnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/12/201907:33(Xem: 2650)
Phật Giáo và Những Dòng Suy Tư (sách pdf)
22/11/201909:13(Xem: 3643)
Nam mô ADIĐÀ PHẬT , xin Thầy giải thích thắc mắc của con từ lâu : “ Nam mô Tam Châu Cảm Ứng Di Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát “: 1- Tại sao Tam Châu mà không là Tứ Châu ? 2- Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát có phải là Vị Bồ Tát đứng chung với Ngài Tiêu Diện BT ở bàn thờ trước hall mà khi chúng con mới vào chùa QDT dẫn đến và nói : cô chú khi mới vào chùa đến xá chào 2 Vị BT này ( check in ) trước khi ra về cũng đến xá chào ( check out).Xin Thầy nói về tiểu sử của 2 Vị BT ( 2 security officers) mà Phật đã bổ nhiệm xuống cho mỗi chùa .Xin mang ơn Thầy 🙏
08/11/201920:14(Xem: 3374)
Thanh Từ Thiền Sư, tuyên ngôn như thế, lời vàng đanh thép, lý tưởng cao siêu, muôn đời bất diệt. Phật Giáo Dân Tộc, đồng hành muôn thuở, tuy hai mà một, bền lòng sắc son, nẻo đạo thanh cao, đường đời rộng mở. Ông Dương Ngọc Dũng, mang danh tiến sĩ, học vị giáo sư, nói năng như khỉ, hành vị đáng khinh, giảng đường đại học, kỳ thị tôn giáo, nói xàm nói láo, xúc phạm Phật giáo, bôi nhọ Tăng Ni.
03/09/201907:12(Xem: 2037)
Hiện tình quốc tế và đất nước đang diễn biến dồn dập hơn bao giờ hết. Khi chính quyền các quốc gia và định chế quốc tế tỏ ra không đủ khả năng để ứng phó trước nguy cơ chiến tranh có thể bộc phát, thì một chủ đề đạo đức tôn giáo cần được thảo luận: Phật giáo có biện minh nào cho chính nghĩa trong cuộc chiến tương lai không?
29/08/201920:49(Xem: 2393)
Trong thời Đức Bổn Sư Thích Ca còn tại thế, nhất là thời giới luật chưa được chế định, 12 năm đầu tiên sau khi Ngài thành đạo, có nhiều tỷ kheo hay cư sĩ đã liễu ngộ, giải thoát, niết bàn chỉ ngay sau một thời thuyết pháp hay một bài kệ của Tôn Sư. Tại sao họ đặt gánh nặng xuống một cách dễ dàng như vậy? Bởi vì họ đã thấu hiếu tận gốc rễ (liễu ngộ) chân đế, tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ, chẳng động, chẳng khởi, chẳng sanh, chẳng diệt, không đến cũng không đi mà thường sáng soi. Khi họ thấu hiểu được vậy. Kể từ lúc đó, họ tín thọ và sống theo sự hiểu biết chơn chánh này. Họ luôn tuệ tri tất cả các pháp đều huyễn hoặc, vô tự tánh cho nên, họ không chấp thủ một pháp nào và thong dong tự tại trong tất cả các pháp.
22/08/201909:25(Xem: 2747)
Phát Bồ đề Tâm là một pháp môn tu, nếu không hơn thì bằng chứ không kém một pháp môn nào trong tam tạng, bởi nó nói lên được cứu cánh của việc tu hành. Trong kinh Đại Phương Tiện, Phật dạy A Nan: “Phát Bồ Đề Tâm là pháp môn thù thắng giúp hành giả rút ngắn tiến trình tu tập của mình”. Trong kinh Hoa Nghiêm Phật lại ân cần nhắc nhở: “Kẻ chỉ quên việc phát Bồ Đề Tâm thì việc làm Phật sự là đang làm ma sự” huống hồ là kẻ tâm không phát, nguyện không lập.
16/08/201911:44(Xem: 2544)
Đức Phật là đấng đạo sư, là bậc thầy của nhân loại, nhưng ngài cũng là nhà luận lý phân tích, nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại. Kinh tạng Pāli cho chúng ta thấy rõ về các phương phápgiảng dạy của đức Phật một cách chi tiết. Tùy theo từng đối tượng nghe pháp mà Ngài có phương thức truyền đạt khác nhau. Chúng sanh có vô lượng trần lao, phiền não, thì Phật pháp có vô lượng pháp môn tu. Nếu sử dụng đúng phương pháp thì hiệu quả giảng dạy sẽ đạt được kết quả tốt. Tri thứcPhật học là nguồn tri thức minh triết, là giáo lý để thực hành, lối sống, do đó phương pháp giảng dạy là vấn đề vô cùng cần thiết để giới thiệu nguồn tri thức minh triết ấy.
05/06/201919:33(Xem: 4653)
Niệm Định Tuệ Hữu Lậu & Niệm Định Tuệ Vô Lậu Phật Đản 2019 – Phật lịch 2563 Tỳ kheo Thích Thắng Giải , Ngôn ngữ là một phương tiện để diễn tả đạo lý, nhưng thể thật của đạo thì vượt ra ngoài ngôn ngữ và tất cả ý niệm. Vì vậy, một khi chúng ta liễu tri được nghĩa chân thật của đạo thì lúc đó sẽ thấu tỏ được sự diệu dụng của phương tiện ngôn ngữ. Nếu xét về nghĩa thật của đạo, đó chính là chân tâm không sinh diệt hay chánh kiến vô lậu.
27/05/201906:01(Xem: 1517)
Tác giả William Edelglass là tân giám đốc về nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Học Barre và là giáo sư triết học và môi trường tại Trường Cao Đẳng Marlboro College tại tiểu bang Vermont. Công việc của ông đã đưa ông tới Dharamsala, Ấn Độ, nơi ông dạy cả triết học Tây Phương cho chư tăng Tây Tạng tại Học Viện Institute of Buddhist Dialectics và triết lý Phật Giáo cho các sinh viên đại học Mỹ về chương trình nghiên cứu Tây Tạng. Bài này trích dịch từ Quý San năm 2019 có chủ đề “Buddhadharma: The Practitioner’s Quarterly,” đăng ngày 14 tháng 5 năm 2019 trên trang mạng Lion’s Roar.
02/05/201908:16(Xem: 1861)
Vì thương xót hết thảy hữu tình phải chịu phiền não, đau thương do tham ái mà bị trôi dài trong bể khổ sinh tử luân hồi, Đức Phật hiện ra ở đời để lại cho thế gian vô số pháp môn tu tập, tùy theo căn cơ, sở trường và hoàn cảnh của mỗi chúng sanh mà chọn lựa pháp hành thích ứng để tu tập nhằm chuyển hóa nỗi khổ và niềm đau thành an lạc, giải thoát, niết bàn. Chư pháp của Thế Tôn được ví như những thang thuốc tùy bệnh mà bốc thuốc. Trong số đó, Tuệ quán vô thường, khổ và vô ngã của tất cả pháp, qua đó hành giả quán tánh ly tham, quán tánh đoạn diệt, quán tánh xả ly của tất cả pháp, là pháp “tối thượng” và vi diệu ‘nhất’ vì nếu hành giả thường xuyên hành trì sẽ ‘chứng đạt’ Tuệ Giải Thoát, vị ấy sẽ đoạn tận mọi kiết sử, không còn khổ đau, phạm hạnh đã thành, chánh trì giải thoát, là bậc A-La-Hán.