Vũ Trụ

25/04/201720:19(Xem: 12372)
Vũ Trụ


vu tru

Vũ trụ


 

Đức Phật đôi khi có đề cập tới tính chất và các thành phần của vũ trụ. Theo Ngài, có nhiều hình thức đời sống hiện hữu ở các nơi khác trong vũ trụ. Với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học ngày nay, có lẽ không bao lâu nữa chúng ta sẽ khám phá ra các loài sinh vật khác đang sống ở các hành tinh xa nhất trong dãi thiên hà của chúng ta. Có thể các chúng sanh nầy sống trong những điều kiện và qui luật vật chất khác, hay giống như chúng ta. Họ có thể hoàn toàn khác chúng ta về hình thể, thành phần và cấu tạo hoá học - và có thể sống trong các chiều không gian khác. Họ có thể hơn chúng ta, hay kém chúng ta xa. Tại sao địa cầu có thể là hành tinh duy nhất có sự sống? Địa cầu so ra chỉ là một mảy bụi trong không gian bao la. Ngài James Jeans, nhà khoa học gia vũ trụ lừng lẫy, ước lượng vũ trụ thật sự  là khoảng một tỷ lần lớn hơn khoảng không gian mà kính viễn vọng của chúng ta có thể thấy được. Trong quyển sách "Vũ trụ bí mật" (The Mysterious Universe) ông nói tổng số các vũ trụ hiện hữu nhiều như tổng số cát trên tất cả bờ biển của địa cầu. Trong một tổng thể vũ trụ như thế, địa cầu chỉ như một phần triệu của hạt cát. Ánh sáng của mặt trời chỉ cần 8 phút để chiếu tới quả đất, trong khi nó cần khoảng 100 tỷ năm để có thể vượt qua chiều rộng của vũ trụ! Với một vũ trụ bao la như thế, khái niệm về một hay vô số hệ thống thế giới có sự sống là điều rất có thể. Với những khám phá mới của khoa học, chúng ta ngày càng thấy rõ sự giới hạn của thế giới chúng ta đang sống. Thế giới của chúng ta bị giới hạn bởi những gì mà giác quan chúng ta cảm nhận được. Như mắt chúng ta chỉ có thể thấy được một dãi tần số hạn hẹp, tai chúng ta cũng thế. Với sự phát minh ra sóng cao tần, tia X, sóng TV và sóng vi ba, v.v...chúng ta ngày nay có thể ý thức về khả năng nhận thức hạn hẹp của chúng ta do giới hạn của giác quan loài người. Chúng ta đang nhìn vũ trụ quả khe hẹp của giác quan, giống như đứa trẻ nhìn thế giới bên ngoài qua khe hẹp của khung cửa sổ. Ý thức về khả năng hạn hẹp của giác quan chứng minh rằng có thể có những hệ thống thế giới khác riêng biệt hay song hành (dung thông) với thế giới chúng ta đang sống - mà chúng ta không thể cảm nhận được.

 

Về tính chất của vũ trụ, đức Phật nói rằng chúng ta không thể quan niệm được sự khởi đầu hay sự tận cùng của vũ trụ. Phật tử không tin là thế giới có thể đột nhiên chấm dứt với sự hủy diệt hoàn toàn. Cũng không có sự hủy diệt hoàn toàn và tức thời của vũ trụ. Khi một phần của vũ trụ biến mất, các phần khác vẫn tồn tại. Phần nầy biến mất thì phần kia hiện ra do sự tái hợp của vật chất bị phân tán. Sự tái hợp nầy do sự tích tụ của các phân tử, nguyên tử, hơi và năng lượng dưới sự tác động của năng lượng vũ trụ và các lực hấp dẫn. Từ đó các hệ thống thế giới mới sẽ hiện ra và tồn tại trong một khoảng thời gian. Đây là chu kì tự nhiên của năng lượng vũ trụ. Đó là lí do mà đức Phật nói ta không thể quan niệm được sự bắt đầu và sự tận cùng của vũ trụ. Ngài chỉ nói tới vấn đề nầy trong một số trường hợp đặc biệt. Trong khi giảng giải, Ngài phải để tâm tới khả nămg tiếp thu của người hỏi. Và Ngài không quan tâm tới những phỏng đoán siêu hình không có lợi ích thiết thực cho sự thăng tiến tâm linh. Phật tử không chấp nhận quan điểm của một số người cho rằng Thượng Đế sẽ huỷ diệt thế giới khi số người bất tín trở nên đông đão và sự đồi trụy của nhân loại trở nên tồi tệ. Với sự tin tưởng nầy. ta có thể đặt câu hỏi là vị Thượng Đế đó, thay vì huỷ diệt thế giới, tại sao không dùng năng lực của Ngài để thay đổi loài người và quét sạch sư đồi trụy trong tâm thức của nhân loại? Dầu Thượng Đế có ra tay huỷ diệt hay không, sẽ có ngày tận cùng của bất cứ sự vật nào hiện hữu, kể cả thế giới của chúng ta. Theo lời đức Phật, thế giới nằm trong chu kì Thành, Trụ, Hoại và Không của vật chất và tâm thức - tái diễn không ngừng. Trong sự phân tích cuối cùng, đức Phật đã siêu việt các khám phá của khoa học tân thời, dầu cao siêu và đáng ca ngợi đến đâu.  Mục tiêu của khoa học là giúp con người làm chủ thiên nhiên để có thể sống trong tiện nghi và an toàn. Tuy nhiên đức Phật nói rằng sự tích tụ kiến thức (về khoa học) không bao giờ có thể giải phóng con người khỏi sự đau khổ của hiện hữu. Con người phải nỗ lực phấn đấu để tiến tới sự hiểu biết thật sự về bản chất (Phật tánh) của mình và tinh chất vô thường của vũ trụ. Muốn thật sự giải phóng mình, con người phải cố gắng chế ngự bản tâm, diệt trừ sự khao khát khoái lạc giác quan. Và khi con người hiểu ra rằng vũ trụ mà họ đang cố gắng chế ngự là vô thường, họ thấy mình như anh chàng Don Quixote muốn chống lại cối xoay gió. Với chánh kiến có được, con người sẽ dùng thì giờ và năng lực để chế ngự bản tâm và diệt trừ ảo tưởng về bản ngã.

 

“Universe”, Seeker’s Glossary of Buddhism, p. 515-517, Thích Phước Thiệt dịch





Ý kiến bạn đọc
28/06/201713:34
Khách
hay qua????????????
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/12/2014(Xem: 14976)
Tôi rất vui mừng hiện diện với tất cả quý vị chiều hôm nay. Tôi đã được yêu cầu nói về "Tại sao Phật Giáo?" dĩ nhiên đây là câu hỏi đáng quan tâm, một cách đặc biệt ở phương Tây, nơi mà chúng ta đã có những tôn giáo của chúng ta, vậy thì tại sao chúng ta cần Phật Giáo? Tôi nghĩ thật quan trọng để hiểu rằng khi chúng ta nói về Phật Giáo, chúng ta có nhiều phương diện khác nhau đối với Phật Giáo. Đấy là những gì chúng ta có thể gọi là khoa học Phật Giáo, tâm lý học Phật Giáo, và tín ngưỡng Phật Giáo:
11/12/2014(Xem: 7296)
Sư nói: - Phật cùng chúng sinh một tâm không khác. Tỷ như hư không, không tạp loạn, không hư hoại. Như vầng nhật lớn chiếu khắp thiên hạ; khi mặt trời lên chiếu sáng khắp nơi, hư không chưa từng sáng. Lúc mặt trời lặn u tối khắp nơi, hư không chưa từng tối. Cảnh sáng tối tự tranh nhau, còn tính của hư không thì rỗng rang không thay đổi.
27/11/2014(Xem: 14295)
Các phương đông, nam, tây, bắc, trên, dưới gọi là “vũ”, tức chỉ không gian vô hạn; từ ngàn xưa đến ngày nay gọi là “trụ”, tức chỉ thời gian vô hạn. Trong triết học gọi là thế giới, tức chỉ tất cả vật chất và toàn bộ hình thức tồn tại của nó. “Vũ trụ” của Phật giáo cũng bao hàm tứ duy (đông nam tây bắc) thượng hạ, quá khứ, hiện tại và vị lai, đồng thời dung chứa thế gian hữu tình vô lượng vô số, và khí thế gian rộng lớn mênh mông. Từ xưa đến nay, con người không ngừng thảo luận và nghiên cứu về sự tồn tại bí ẩn của vũ trụ; từ trong thần thoại của thuở hồng hoang đến sự phát hiện lần lượt của hệ thái dương, hệ ngân hà; sự biến chuyển từng ngày của khoa học khiến cho nhân loại bừng sáng và hiểu ra rằng thời gian và không gian (thời không), hữu tình, vật chất đều tự nhiên rộng lớn vô cùng, vượt xa ngoài phạm trù có thể hiểu biết của loài người.
25/11/2014(Xem: 13329)
Bài chuyển ngữ dưới đây được trích từ một quyển sách mang tựa Con tim giải thoát (A Heart Released) của nhà sư Thái Lan Ajahn Mun (1870-1949). Ajahn Mun và thầy của ông là Ajahn Sao (1861-1941) là những người đã tái lập "Truyền thống tu trong rừng", một phép tu thật khắc khổ và nghiêm túc, nêu cao lý tưởng của một cuộc sống khất thực không nhà của thời kỳ khi Đức Phật còn tại thế. Vị đại sư Ajahn Chah - mà người Thái tôn thờ như người cha sinh ra mình - thuộc thế hệ thứ hai của truyền thống này, và vị thầy của ông không ai khác hơn là Ajahn Mun.
19/11/2014(Xem: 13343)
Có một số người học Phật thích tìm kiếm, thu thập những tư tưởng cao siêu, từ đó đem ra lý giải, phân tích rất hay nhưng phần hạ thủ công phu, tu tập cụ thể như thế nào lại không nghe nói tới! Họ đã quên rằng, kiến thức ấy chỉ là âm bản, chỉ là khái niệm, không phải là cái thực. Cái thực ấy phải tự mình chứng nghiệm. Cái mà mình chứng nghiệm mới là cái thực của mình.
19/11/2014(Xem: 16701)
Văn học là một trong những phương thức biểu đạt tình cảm và trí thức của loài người. Một tác phẩm văn học hay, không chỉ tạo ra tiếng vang rộng lớn tại thời điểm và địa phương nào đó, thậm chí nó có khả năng siêu vượt biên giới thời-không, dẫn dắt nhân tâm bước vào cảnh giới chân- thiện- mỹ. Trong Phật giáo có rất nhiều tác phẩm chính là đại diện cho loại hình này; đặc biệt chính bản thân Đức Phật cũng là nhà văn học tài trí mẫn tiệp, trí tuệ siêu quần.
16/11/2014(Xem: 18955)
Lý thuyết nòng cốt của Phật giáo về sự cấu tạo con người và vũ trụ là năm uẩn. Uẩn có nghĩa là sự chứa nhóm, tích tụ: 5 uẩn là 5 nhóm tạo thành con người. Sở dĩ gọi “nhóm” là vì: 1) Tâm vật không rời nhau, tạo thành một nhóm gọi là uẩn. 2) Gồm nhiều thứ khác nhau họp lại, như sắc uẩn là nhóm vật chất gồm 4 đại địa thủy hỏa phong (chất cứng, chất lỏng, hơi nóng, chuyển động) và những vật do 4 đại tạo thành. 3) Mỗi một nhóm trong 5 uẩn có đặc tính lôi kéo nhóm khác, như sắc uẩn kéo theo thọ, thọ kéo theo tưởng, tưởng kéo theo hành... 4) và cuối cùng ý nghĩa thâm thúy nhất của uẩn như kinh Bát nhã nói, là: “kết tụ sự đau khổ”.
15/11/2014(Xem: 33760)
Nên lưu ý đến một cách phân biệt tinh tế về thứ tự xuất hiện của hai kiến giải sai lầm trên. Đầu tiên là kiến giải chấp vào tự ngã của các nhóm thân tâm, và từ cơ sở này lại xuất phát kiến giải chấp vào tự ngã của cá nhân. Trong trường hợp nhận thức được Tính không thì người ta sẽ nhận ra Tính không của nhân ngã trước; bởi vì nó dễ được nhận ra hơn. Sau đó thì Tính không của pháp ngã được xác định.
01/11/2014(Xem: 13218)
Trong các kinh tạng, Phật nói nhiều về ‘tam thiên, đại thiên’ thế giới và đa số chúng ta thường hình dung rằng những thế giới này nằm bên ngoài trái đất, thế giới của các vị trời, thần… Vì chưa chứng được thần thông nên chúng tôi không thể nhìn thấy được những thiên giới đó! Nhưng thật ra nếu quán chiếu cho sâu, chúng ta sẽ thấy rằng có những thế giới không đâu xa mà chính ngay bên trong cõi ta bà, nơi mình đang sống.
25/10/2014(Xem: 30316)
Trong bất cứ một cộng đồng nào đều có nhiều tầng lớp khác nhau, nhiều chủng loại con người khác nhau sống cùng trong đó, thì chắc chắn luôn có sự hiện diện của nhiều mặt tư tưởng khác nhau, phát sinh nhiều vấn đề liên quan. Vì vậy để gìn giữ một cuộc sống yên bình cho một cộng đồng, con người phải có nhiều phương pháp để hòa giải mọi sự khác biệt. Xuyên suốt trong lịch sử của loài người, đã có rất nhiều lời đề xuất để giải quyết, thậm chí phải sử dụng đến phương sách bạo động, chẳng hạn như chiến tranh, xung đôt nhằm giải quyết sự khác biệt.